phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận án được 5 phân chia thành các chương như sau: Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương này trình bày với một số nội dung trọng tâm: (1) Các khái niệm cơ bản(2) Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước; (3) Đặc trưng cơ bản về vùng nghiên cứu; (4) Đánh giá chung Dựa trên những ph n tích, đánh giá tổng quan, luận án đã ph n tích và chỉ rõ những vấn đề còn t n tại, chưa được làm rõ. Chƣơng 2: Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu Chương này được làm nổi bật với các nội dung:(1) Cách tiếp cận: Mô tả cách tiếp cận để đạt được mục tiêu PVST NTTS vùng ĐBSCL trong điều kiện BĐKH (2) Thu thập và chuẩn h a dữ liệu: Mô tả phương pháp thu thập, chuẩn h a xử lý, phân tích các loại dữ liệu không gian liên quan đến PVST NTTS vùng ĐBSCL (3) Phương pháp thực hiện: Mô tả phương pháp thực hiện khi tiến hành phân vùng, cách thức phân tích, xây dựng và tích hợp dữ liệu không gian. Chƣơng 3: Kết quả và thảo uận Nghiên cứu được thực hiện qua các kết quả chính sau: (1) Xác lập cơ sở khoa học:Bao gồm việc đề xuất cách tiếp cận và các nguyên tắc cần thực hiện khi phân vùng; (2) Kết quả PVST NTTS trong điều kiệnBĐKH: Trình bày toàn bộ kết quả đã thực hiện phân vùng sinh thái tự nhiên NTTS do tác động của BĐKH vùng ĐBSCL dựa trên cơ sở khoa học đã đề xuất. Trong đ , kết quả được phân ra thành 2 nội dung cơ bản: Phân vùng sinh thái tự nhiên NTTS do tác động của BĐKH và Phân vùng sinh thái tự nhiên NTTS do tác động của cực đoan và BĐKH (3) Lồng ghép PVST NTTS trong quy hoạch không gian: Là phần đề xuất các mô hình NTTS trên các vùng sinh thái (4) Thảo luận: Tập trung thảo luận về tính mới, những vấn đề được phát hiện trong cơ sở khoa học, phương pháp, kết quả nghiên cứu và những hạn chế cần khắc phục của nghiên cứu Kết luận và kiến nghị Danh mục các công trình khoa học của tác giả có iên quan đến luận án Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 CHƢƠN 1 TỔNG QUANVẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
ỘT Ố Q AN NIỆ VỀ H N V N 1. Các khái niệm cơ bản a) Vùng Từ điển tiếng Việt (1994): Vùng là phần đất đai, hoặc là khoảng không gian tương đối rộng có những đặc điểm nhất định về tự nhiên và xã hội, phân biệt với các phần khác ở xung quanh. Trong công trình “Việt nam lãnh thổ và các vùng địa lý”, Lê Bá Thảo (1998) đã xác định: vùng là một bộ phận của quốc gia có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống, có mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó và có mối quan hệ chọn lọc với khoảng không gian bên ngoài.Một vùng hoặc một khu vực được nhận biết với vùng lân cận bởi các đặc điểm hoặc đặc tính riêng biệt nào đ. Một vùng hoặc một khu vực có ranh giới thường được thiết lập cho mục đích cụ thể.
Trong các ngành, lĩnh vực riêng biệt, vùng được xác định bằng các hệ thống chỉ tiêu và tiêu chí được xây dựng trên cơ sở mục tiêu phân loại vùng và mục tiêu sử dụng kết quả phân vùng. Do đ c nhiều cách để phân vùng và nhiều vùng nằm chồng lấn lên nhau tại một khu vực địa lý [74] Chúng tôi cho rằng, khái niệm v ng để miêu tả sự đ ng nhất c a các phần tử bên trong vùng theo một khía cạnh hoặc tiêu chí nào đó nhằm phục vụ cho mục tiêu cụ thể. Do vậy, vùng luôn mang 2 đặc tính cơ bản: (i) Đặc tính không gian (có diện tích, phân bố); (ii) đặc tính thuộc tính riêng (đồng nhất theo các tiêu chí); Cũng lưu ý rằng, có sự khác biệt cụ thể trong phân vùng lãnh thổ và phân vùng sinh thái phụ thuộc vào các đặc tính nói trên. b) Vùng sinh thái + Khái niệm Vùng sinh thái là những vùng c đặc tính giống nhau về mặt địa lý kết hợp với các ràng buộc của loại sinh thái.
Đặc tính các hiện tượng về mặt địa lý có thểbao gồm: địa chất, vật lý, thảm thực vật, khí hậu, thủy v n, địa hình, quần thể thủy sinh, đất hoặc không bao gồm các hoạt động tác động của con người[62]. 7 + Ranh giới sinh thái Vùng sinh thái được xác định theo ranh giới và mang tính chất tương đối. Ranh giới có thể là vùng (có diện tích nhất định) hoặc đường phụ thuộc vào độ phân giải (mức độ chi tiết) [66]. Theo tác giả Fagan WF, Fortin MJ và Soykan C.
(2003), hầu hết ranh giới vùng sinh thái thường mang tính chất “động”, luôn biến động theo thời gian. Do vậy, Khi nghiên cứu về sinh thái, một số tác giả Cadenasso (2003),David L. Strayer (2003),Peters et al. (2006)đã đưa ra khái niệm về cách tiếp cận ranh giới vùng sinh thái (ecological boundary approach) để nghiên cứu về cấu trúc không gian, chức n ng, tính chất biến động theo thời gian và đa chiều của vùng sinh thái chuyển tiếp.
Bất kỳ loại sinh thái tự nhiên nào khu vực ranh giới cũng đều mang tính chuyển tiếp (giao thoa) giữa hai vùng sinh thái lân cận [24]. Tiếp cận ranh giới sinh thái như vậy giúp cho việc xem xét tính biến động theo thời gian và không gian tại ranh giới những vùng chuyển tiếp. Nếu chỉ xem xét vùng là một thực thể đồng nhất theo một tiêu chí nào đ sẽ dẫn đến thiếu sự cân nhắc những biến động theo thời gian tại khu vực ranh giới giữa hai kiểu sinh thái lân cận. + Cấu tr c và đặc tính chung c a vùng sinh thái Trong thực tiễn, vùng sinh thái là một hệ thống khá phức tạp gồm các hệ sinh thái cấp khác nhau, đặc biệt khi nghiên cứu ở cấp độ chi tiết.(2008), cách đơn giản nhất để xem xét hệ thống sinh thái phức tạp là xem xét cấu trúc của nó theo mô hình hệ thống của cấu trúc thứ bậc.
Lý thuyết về cấu trúc thứ bậc (hierarchy theory) được lồng ghép để phân chia hệ sinh thái thành các cấp độ, nó rất c ý nghĩa đối với việc nghiên cứu cho những vùng c đặc tính biến động [67].Strayer (2003) khi PVST cần phải chú ý 4 đặc tính cơ bản tạo nên vùng sinh thái: (i) Ngồn gốc và sự duy trì theo thời gian; (ii) Cấu trúc không gian; (iii) Chức n ng; (iv) Biến động theo thời gian. c) Sinh thái nuôi trồng thủy sản Theo FAO (2008), NTTS là cách sử dụng các phương pháp, kỹ thuật để nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích hoặc thể tíchđối với các đối tượng thủy sinh (cá, nhuyễn thể, giáp xác,…).Trong thực tiễn, NTTS là hình thức sản xuất đa dạng, phong phú và được phân chia theo nhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào đặc tính của mỗi hệ thống NTTS của khu vực[54]. 8 - Ph n chia theo đặc tính sinh thái ngu n nước: Theo tài liệu của FAO (1987),sinh cảnh (nơi cư trú tự nhiên) đối với các loài NTTS được phân thành 3 loại: Nước ngọt, nước mặn, nước lợ tương ứng với 3 loại sinh thái trong NTTS. Vùng nước mặn c độ mặn≥30‰ (liên quan đến NTTS biển); vùng nước lợ c độ mặn từ 1-2‰ đến 30‰ (NTTS vùng cửa sông, ven châu thổ, đầm phá chịu tác động của thủy triểu); nước ngọt c độ mặn 0-1 ho c 2 ‰ (NTTS vùng nội địa không chịu tác động của thủy triểu).
- Ph n chia đặc tính sinh thái ngu n nước ết hợp với h nh thức canh tác:Là việc phân chia dựa vào đặc tính nguồn nước của hệ sinh thái kết hợp với đặc thù của hình thức canh tác, gồm các loại NTTS sông, nuôi hồ chứa, đầm phá, cửa sông biển hở - Phân chia dựa vào hình thức nuôi: Dựa vào đặc tính sử dụng đất của các hình thức sản xuất bao gồm NTTS ao đất, nuôi bể, nuôi nước chảy; - Phân chia theo hình thức canh tác: Nuôi xen, luân canh, nuôi chuyên, nuôi ao đất, nuôi lồng… -Ph n chia theo đối tượng, nhóm, loài nuôi:cá, giáp xác, nhuyễn thể…. -Phân chia theo phương thức nuôi: Thâm canh, bán thâm canh, quảng canh Như vậy, cho đến nay chưa c hệ thống phân loại phục vụ PVST được sử dụng thống nhất cho lĩnh vực NTTS. Bởi vì việc phân loại phụ thuộc vào mục tiêu cần thống kê (theo đối tượng hoặc theo hình thức nuôi…) của từng nghiên cứu. Từ những cách phân chia đối với NTTS ở trên cho thấy: Quy mô cấp vùng, NTTS luôn được phân chia theo đặc tính của sinh thái nguồn nước (mặn, lợ, ngọt); ở quy mô chi tiết hơn (trong cùng kiểu loại sinh thái), NTTS được xem xét phân chia theo hình thức canh tác, nhóm loài nuôi hoặc trình độ thâm canh.
Phân vùng Phân vùng là khái niệm được Edward M. Theo tác giả phân vùng để nhằm mục đích tạo ra sự phát triển cho vùng. Phân vùng là công cụ để Nhà nước cho phép các hành vi hoặc cách thức áp dụng đối với vùng. 9 Cụ thể hơn, theo quan điểm về phân vùng trong sử dụng đất của tác giả David Owens (1998) thì phân vùng là phương tiện giúp cho Nhà nước quản lý và thực thi những chính sách để thúc đẩy phát triển tốt hơn cho cộng đồng khu vực đ.
Tại sao cần phải phân vùng? Theo tác giảEdward M. Bassett (1936), quá trình phát triển tạo ra các xung đột trong sử dụng đất làm ảnh hưởng tiêu cực đến sử dụng tài nguyên và phát triển bền vững, nên cần phải phân vùng để Nhà nước tạo ra các giải pháp quản lý hoặc tác động bằng các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển. Nếu theo quan điểm của Bassett Edward M. Bassett (1936)“Phân vùng nhằm mục đích tạo ra sự phát triển cho vùng” thì bất kỳ lĩnh vực gì liên quan đến phát triển của vùng lãnh thổ (kể cả quản lý phục vụ phát triển) đều có thể phân vùng.
a) Khái niệm Cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến phân vùng, mỗi một lĩnh vực các khái niệm về phân vùng luôn gắn liền với đặc thù của lĩnh vực đ. Theo FAO (1976) phân vùng sinh thái là quá trình đánh giá, phân định ra những vùng dựa trên thuộc tính về sinh học, tự nhiên. Mục đích để điều chỉnh và kiểm soát sử dụng đất và tài nguyên thiên nhiên phù hợp với tính toàn vẹn và sức tải của hệ sinh thái. Đặng V n Lợi (2009)khi nghiên cứu phân vùng chức n ng môi trường cho rằng: Phân vùng là việc phân chia lãnh thổ thành các đơn vị tương đối đồng nhất theo các tiêu chí.