Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững cây sắn; Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Thực trạng phát triển bền vững cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên và Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển bền vững cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY SẮN 1. Các dự án, chương trình nghiên cứu về cải tiến giống và kỹ thuật sản xuất sắn trên thế giới và ở Việt Nam - Trên thế giới: Sắn là một cây trồng có vai trò quan trọng, có nhiều nghiên cứu, thí nghiệm về phát triển giống sắn cho năng suất cao, ít sâu bệnh, các kỹ thuật trồng và bón phân cho sắn được nhiều tổ chức và các nhà khoa học thực hiện như: Trung tâm quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới (CIAT), Viện IITA – Nigeria, Trung tâm nghiên cứu sắn của Ấn Độ, Trung Quốc [51], [104]. Khu vực Châu Á, Thái Lan là quốc gia rất chú trọng nghiên cứu giống sắn cho năng suất cao và đã tuyển chọn được các giống như Rayong 1, Rayong 60 và Rayong 3.
Wangsomnuk và cộng sự (2013), đã thu thập chọn tạo giống mới trên rất nhiều vùng và trang trại nhằm xác định được những giống phù hợp với điều kiện sinh thái ở Thái Lan [100]. Những tiến bộ trong công tác giống và kỹ thuật trồng trọt đã giúp phát triển cây sắn trên quy mô rộng khắp và được ghi nhận là một trong những cây trồng cạn phát triển nhanh nhất trên thế giới. Theo Howeler và Aye (2015) [24], áp dụng các kỹ thuật chăm sóc, bón phân có thể nâng cao năng suất sắn thu hoạch, giảm xói mòn, cải thiện độ phì nhiêu của đất. Song song với việc nghiên cứu tuyển chọn các giống sắn mới, việc nghiên cứu quy trình sản xuất thích ứng với điều kiện sinh thái vùng cũng rất quan trọng [52].
Xác định quy trình cho những giống triển vọng trên những vùng sinh thái là hướng nghiên cứu cơ bản của hầu hết các quốc gia trong phát triển sắn ở các địa phương. - Ở Việt Nam: Cây sắn được chính phủ và người dân hết sức chú trọng. Chình vì thế, nhiều chương trình nghiên cứu và phát triển cây sắn đã được ưu tiên. Thông qua chương trình hợp tác nghiên cứu giữa CIAT với Việt Nam và các nước Đông Nam Á đã tạo ra được các giống sắn tốt có năng suất và chất lượng cao.
Đó chính là áp dụng đột biến trong nhân giống sắn để tăng năng suất, hàm lượng tinh bột cao, thời gian thu hoạch sớm, khả năng kháng bệnh cho vùng Đông Nam, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ…[33]. Theo tổ chức FAO, Việt Nam hiện là một trong những nước điển hình của châu 6 Á và thế giới trong việc ứng dụng công nghệ chọn tạo, nhân giống sắn lai và xây dựng mô hình canh tác sắn bền vững [32], [33]. Giống KM94 là con lai của tổ hợp lai Rayong1 x Rayong 90 nhập nội đã được công nhận cấp quốc gia [103]. Đây là giống được trồng phổ biến nhất hiện nay, chiếm 75,6% diện tích sắn trên cả nước, tuy nhiên giống KM94 đang bị bệnh Chổi rồng (Phytoplasma) gây hại làm giảm năng suất và sản lượng sắn [103].
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng giống KM94 cho năng suất và sản lượng khác nhau với mức phân bón khác nhau, nếu đầu tư bón phân sẽ cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao [25]. Mỗi giống sắn có sự thích ứng khác nhau ở các địa phương. Thực hiện khảo nghiệm tại các địa phương như Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk và Kom Tum, Trần Công Khanh và cộng sự (2012) [28], [103] đã cho kết quả KM140, KM98-5, KM94 là các giống cho năng suất cao. Tại vùng Đông Nam Bộ, Hoàng Kim và cộng sự (2013) [24], Vũ Trung (2013) [51] đã tiến hành khảo nghiệm và kết quả cho thấy: Giống sắn KM419 và KM444 có sức sinh trưởng khỏe, năng suất củ tươi, hàm lượng tinh bột cao.
Hiện tại, nhiều giống sắn tốt đã được phát triển và sử dụng tại nhiều địa phương ở Việt nam. Theo Trần Ngọc Ngoạn và cộng sự (2014) [93], các giống sắn HL2004-28; HL2004-32; KM419 được trồng ở khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc có năng suất củ tươi và tỷ lệ tinh bột cao. Theo Trần Ngọc Ngoạn và cộng sự (2015) [37], khảo nghiệm giống sắn KM419 được trồng ở các tỉnh Tuyên Quang, Nghệ An và Đồng Nai cho năng suất củ tươi bình quân rất cao đạt 40,8 tấn/ha, vượt 27,8% so với giồng sắn đối chứng KM94 (31,9 tấn/ha). Giống sắn KM419 triển khai tại các tỉnh: Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk được nông dân địa phương rất ưa chuộng và đưa vào trồng sản xuất chính vụ với tên gọi là giống sắn cao sản siêu bột Nông Lâm, Cút Lùn [31].
Tóm lại, thông qua những đầu tư và nghiên cứuvề kỹ thuật trồng sắn, tuyển chọn, lai tạo giống sắn, nhiều giống sắn mới cho năng suất cao, chống chịu được sâu bệnh, phù hợp với từng vùng sinh thái, hạn chế ảnh hưởng đến đất đai và môi trường phục vụ sản xuất sắn bền vững đã được phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Đây chính là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển và đóng góp của cây sắn đối với nền nông nghiệp cũng như nền kinh tế của nhiều quốc gia trong những năm vừa qua. Tình hình nghiên cứu phát triển bền vững cây sắn trên thế giới Sắn là cây trồng quan trọng, vì thế trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về phát triển bền vững cây sắn. Các nghiên cứu tập trung phân tích và đánh giá phát triển cây sắn theo các nội dung kinh tế, xã hội và môi trường.
- Về kinh tế: Đây là nội dung mà các nhà nghiên cứu dành nhiều ưu tiên phân tích và đánh giá. Nội dung này trước hết đó chính là đánh giá sự phát triển của ngành hàng sắn theo góc độ chuỗi giá trị hay chuỗi cung ứng như nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm sắn và thị trường tiêu thụ của Collinson, C. và cộng sự (2000) [70], Kimathi, M. và cộng sự (2008) [84], Kaplinsky, R.
và cộng sự (2010) [82] cho rằng, việc tăng tính thanh khoản trong chuỗi kinh doanh sắn khô dẫn đến hiệu quả của toàn chuỗi cao hơn, chi phí vận chuyển giữa các trang trại với các điểm thu mua chiếm tỷ trọng lớn trong giá bán. Kết quả chỉ ra rằng, những liên kết trong chuỗi giá trị sản phẩm sắn không bền chặt và thiếu ổn định, cấu trúc hợp tác không rõ ràng, ít gắn kết, tuy nhiên lợi ích của các tác nhân dọc theo chuỗi là khá cao; Ngoài ra, kết quả phân tích khẳng định chuỗi cung sản phẩm sắn vào thị trường Châu Âu và Trung Quốc có sự dịch chuyển thay thế lẫn nhau khi có những chính sách, quy định ràng buộc tác động đến ngành hàng sắn thay đổi. Vì thế nhóm tác giả đã chỉ ra sự hợp tác, liên kết giữa nhà cung cấp và nhà nhập khẩu thông qua hợp đồng là rất quan trọng, qua đó giảm thiểu được các rủi ro biến động giá cả thị trường sản phẩm sắn, giúp cho chuỗi cung sản phẩm sắn bền vững. Một nghiên cứu khác cho các Sáng kiến hợp tác ở đồng bằng sông Niger (Foundation for Partnership Initiatives in the Niger Delta (PIND, 2011)) [77], đã cung cấp thông tin toàn diện về chuỗi sản phẩm sắn ở đồng bằng sông Niger - Nigeria nhằm giúp cho việc đầu tư trong tương lai.
Nghiên cứu cho thấy, sản xuất, chế biến và tiêu thụ sắn có những cơ hội phát triển, điều đó cần có các tổ chức hỗ trợ, khuôn khổ pháp lý, qua đó đã đề xuất các giải pháp cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững của ngành hàng sắn tại khu vực này. Hộ sản xuất sắn quy mô nhỏ vẫn rất phổ biến (chiếm khoảng 95% tổng số hộ nông dân trồng sắn) canh tác khoảng khoảng 0,2 - 1 ha, năng suất từ 8 - 10 tấn/ha. Hộ trồng sắn có quy mô lớn (từ 10 ha trở lên) có tỷ lệ khá ít trong khu vực. Chi phí lao động chiếm khoảng 70% trong tổng chi phí sản xuất và chủ yếu lấy công 8 làm lãi.
Vì vậy, sản xuất sắn quy mô lớn cần đầu tư máy móc thiết bị và không khả thi với nông dân nghèo ở khu vực này. Các nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng thu nhập từ hoạt động SX sắn đóng góp rất lớn cho hộ gia đình, khu vực và quốc gia, sự liên kết chưa chặt chẽ trong chuỗi sản phẩm sắn, chuỗi cung và thị trường tiêu thụ sản phẩm sắn. Việc triển khai áp dụng máy móc công nghệ cao rất khó cho vùng nông dân nghèo trồng sắn. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa đề cập nhiều đến góc độ hiệu quả kinh tế SX sắn hộ gia đình và các yếu tố ảnh hưởng như thế nào.
và cộng sự (2013) [63], Ehinmowo, O. và cộng sự (2014) [73], Onubuogu, G. và cộng sự (2014) [94], đã điều tra ngẫu nhiên hộ gia đình trồng sắn và bằng phương pháp thống kê mô tả, hàm sản xuất cận biên (sử dụng công cụ Frontier 4.1), hàm sản xuất Cobb-Douglas cho thấy: hiệu quả kinh tế của hộ trồng sắn không đạt được mức cận biên, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất sắn như: trình độ của nông dân, khả năng dự đoán lượng mưa, kinh nghiệm trong nông nghiệp, quy mô diện tích trồng sắn, kỹ thuật canh tác, bón phân, vốn và lao động là những yếu tố cơ bản. Bên cạnh đó, các yếu tố như: giáo dục, số người trong hộ gia đình cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất sắn trong năm cũng tác động đến hiệu quả sản xuất sắn.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, chế biến sắn theo phương pháp địa phương là không hiệu quả. Để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nông dân trồng sắn cần có cơ chế chính sách nhằm nâng cao trình độ cho người nông dân, khuyến khích tăng đầu tư của tư nhân trong lĩnh vực này. Nghiên cứu phát hiện ra rằng, quy mô diện tích đất đai canh tác là có hạn, hệ thống dịch vụ đầu vào và tiêu thụ, cơ sở hạ tầng và áp dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất sắn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ chính quyền địa phương. Một kết quả thú vị trong nghiên cứu này là phương pháp chế biến sắn chưa hiệu quả do người dân chưa am hiểu các tiến bộ khoa học.
Do đó, cần phải nâng cao trình độ hoặc có các đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến sắn gần vùng nguyên liệu sắn.