MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu và là một thách thức lớn đối với môi trƣờng toàn cầu trong đó có Việt Nam. Biểu hiện chủ yếu của biến đổi khí hậu là sự nóng lên trên toàn cầu mà nguyên nhân chính bắt nguồn từ sự phát thải quá mức vào khí quyển các chất có hiệu ứng nhà kính do hoạt động kinh tế và xã hội trên trái đất. Kéo theo sự tăng lên của nhiệt độ toàn cầu là những biến động mạnh mẽ của lƣợng mƣa và sự gia tăng các hiện tƣợng khí hậu, thời tiết cực đoan nhƣ lũ lụt, hạn hán,. Hệ quả tiếp theo là nƣớc biển dâng và sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến khu vực ven biển, có thể làm ngập hoặc nhiễm mặn nhiều diện tích ruộng đất, làm mất dần rừng ngập mặn, gia tăng chi phí cho việc tu bổ các công trình cầu cảng, đô thị ven biển,.
Biến đổi khí hậu có thể do 2 nguyên nhân: do những quá trình tự nhiên và do ảnh hƣởng của con ngƣời. Phần lớn các nhà khoa học đều khẳng định rằng hoạt động của con ngƣời hiện nay đã và đang gây ra BĐKH toàn cầu. Nguyên nhân chủ yếu của sự biến đổi đó là sự tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính. Đặc biệt quan trọng là khí CO2 đƣợc tạo thành do sử dụng năng lƣợng từ nhiên liệu hóa thạch (nhƣ dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên…), phá rừng và chuyển đổi sử dụng đất.
Việt Nam, một quốc gia có bờ biển dài 3.260 km (VASEP, 2007) đƣợc dự báo sẽ bị ảnh hƣởng nặng nề bởi BĐKH và mực nƣớc biển dâng. Theo nhiều báo cáo khoa học, Việt Nam là nƣớc đứng thứ 4 phân theo mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do nƣớc biển dâng. Trong đó, Hải Phòng sẽ là 1 trong số 10 thành phố bị ngập lụt nhất trong cả nƣớc. Nguy cơ tác động của BĐKH tại Hải Phòng hiện rõ ràng và đáng báo động.
Qua quan trắc tại đảo Hòn Dấu, trong 1 thập kỷ qua, mực nƣớc biển ở Hải Phòng đã tăng cao hơn 20 cm. Một số vùng cửa sông ven biển ở Hải Phòng có hiện tƣợng bị nƣớc biển xâm thực, đặc biệt mạnh tại khu vực Phù Long, đảo Cát Hải, Đình Vũ, ven đê biển 1, đê biển 2. Một số vùng cửa sông nền địa chất yếu, xuất hiện nhiều vùng 1 z xoáy nguy hiểm, tình trạng xói lở bờ sông có chiều hƣớng gia tăng, không theo quy luật nhƣ trƣớc đây. Một số vùng bãi triều xuất hiện rất rõ tình trạng nƣớc biển dâng cao, thủy triều lên xuống bất thƣờng….
Nhiệt độ tăng, chế độ dòng chảy, độ mặn, lƣợng mƣa thay đổi đã và đang ảnh hƣởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của nguồn, cơ cấu và chất lƣợng thức ăn của các loài thủy, hải sản. Các điều kiện tự nhiên thay đổi cũng khiến thói quen sống và sinh sản của thủy, hải sản có những biến động. Nhiều loài sinh vật biển cũng bị suy giảm nghiêm trọng và giảm dần về chất lƣợng cũng nhƣ trữ lƣợng. Các hiện tƣợng thiên tai biển nhƣ dông, tố lốc, bão, gió mùa đông bắc… ngày càng khốc liệt, khó lƣờng, gây thiệt hại lớn cho ngƣ dân, phá hủy tàu thuyền đánh bắt.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã thực hiện đề tài : “Đánh giá ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy sản tại thành phố Hải Phòng”. Mục tiêu đề tài Đánh giá đƣợc xu hƣớng của BĐKH tại thành phố Hải Phòng. Bƣớc đầu đánh giá mức độ ảnh hƣởng của BĐKH tới ngành NTTS tại thành phố Hải Phòng và đề xuất các giải pháp thích ứng. Nội dung nghiên cứu Các biểu hiện của về BĐKH tại thành phố Hải Phòng.
Đánh giá sự thay đổi về diện tích, chất lƣợng đất nuôi trồng thủy sản. Đánh giá sự thay đổi về HST rừng ngập mặt. Đánh giá về nguồn lợi thủy sản và nghề cá. Đánh giá về bệnh thủy sản.
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tại thành phố Hải Phòng. Tổng quan về BĐKH và tác động của BĐKH đến ngành thủy sản 1. Quan niệm về BĐKH 1. Khái niệm về thời tiết, khí hậu và BĐKH Thời tiết và khí hậu Thời tiết đƣợc biểu hiện bằng các hiện tƣợng: nắng, mƣa, mây, gió, nóng lạnh.
tại bất kỳ nơi nào, thƣờng thay đổi nhanh chóng trong một ngày hay từ ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Tổng hợp của thời tiết đƣợc đặc trƣng bởi các trị số thống kê dài hạn của các yếu tố khí tƣợng biến động trong một khu vực địa lý. Thời kỳ trung bình thƣờng là vài thập kỷ. Tổ chức khí tƣợng thế giới (WMO) định nghĩa khí hậu: “Tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một khu vực nhất định đặc trƣng bởi các thống kê dài hạn các biến số của trạng thái khí quyển ở khu vực đó”.
Theo Nguyễn Đức Ngữ (2008), khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó (ví dụ nhƣ một tỉnh, một nƣớc hay một châu lục). Khi ta nói, khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm, điều đó có nghĩa là nƣớc ta thƣờng xuyên có nhiệt độ trung bình hàng năm cao và lƣợng mƣa trung bình hàng năm lớn, đồng thời có sự thay đổi theo mùa. Cần phân biệt khái niệm thời tiết và khí hậu. Khí hậu có tính chất ổn định, ít thay đổi còn thời tiết có tính chất tức thời, thời tiết thay đổi ngay cả khi khí hậu không thay đổi.
Khí hậu là một cái “vỏ bọc chứa mọi khả năng” mà bên trong đó thời tiết có thể xảy ra. Biến đổi khí hậu Theo UNFCCC (1994) thì sự BĐKH đƣợc quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự BĐKH tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh đƣợc. Nhƣ vậy, BĐKH là sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu, 3 z trong đó trung bình đƣợc thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thƣờng là vài thập kỷ, thậm chí thế kỷ (Ví dụ: ấm lên, lạnh đi. Sự biến động của khí hậu dài hạn sẽ dẫn tới BĐKH.
BĐKH có tác động rất lớn đến sự sống cũng nhƣ hoạt động của con ngƣời. Kết quả đo đạc và nghiên cứu hiện nay cho thấy, nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng lên 0,60C (± 0,20C); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển và thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2001). Tƣơng ứng với sự tăng của nhiệt độ toàn cầu, mực nƣớc trung bình của đại dƣơng cũng tăng lên 10 – 25 cm (trung bình 1 – 2 mm/năm trong thế kỷ XX) do băng tan và giãn nở nhiệt đại dƣơng. Từ cuối những năm 1960, phạm vi lớp phủ tuyết giảm khoảng 10%.
Độ dày của lớp băng biển ở Bắc cực trong thời kỳ từ cuối mùa hạ đến đầu mùa thu giảm xuống khoảng 40% trong vài thập kỷ gần đây và khoảng 20 năm gần đây, ngƣời ta đã phát hiện thấy mối quan hệ giữa các dị thƣờng khí hậu với hiện tƣợng ENSO. Kịch bản BĐKH Kịch bản BĐKH là giả định có cơ sở khoa học và độ tin cậy về sự tiến triển trong tƣơng lai của các mối quan hệ giữ a kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính , biế n đổ i khí hâ ̣u và mƣ̣c nƣớc biể n dâng. Cầ n nhấ n ma ̣nh rằ ng , kịch bản BĐKH khác với dƣ̣ báo thời tiế t và dƣ̣ báo khí hâ ̣u là nó đƣa ra quan điể m về mố i ràng buô ̣c giƣ̃a phát triể n và hành đô ̣ng. Kịch bản BĐKH bao gồm: kịch bản phát thải KNK, kịch bản nƣớc biển dâng, kịch bản biến đổi các yếu tố khí hậu (TOC, lƣợng mƣa, yếu tố thời tiết cực đoan).
Kịch bản biến đổi khí hậu thƣờng đƣợc xây dựng theo các giả thiết trên cho các quốc gia từ quy mô toàn cầu (kịch bản của ICCP), đến quy mô khu vực, quy mô quốc gia và quy mô địa phƣơng. Thích ứng BĐKH gây ra những hậu quả năng nề với sự phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các nƣớc và khu vực. Trong cuộc chiến với BĐKH không một ai có thể đứng ngoài 4 z cuộc. Vì vậy, mỗi ngành, mỗi địa phƣơng tại mỗi thời điểm khác nhau cần có những biện pháp để ứng phó với BĐKH nhằm giảm đƣợc sự tổn thƣơng do BĐKH và các hiện tƣợng thời tiết cực đoan ( nhƣ bão, lũ, lốc, vòi rồng, sƣơng muối,…) gây ra ảnh hƣởng đến ngƣời dân và môi trƣờng sống tại khu vực.
Ứng phó với BĐKH bao gồm giảm thiểu phát thải KNK và thích ứng với BĐKH. Trong luận văn này, tôi chỉ nghiên cứu đến các biện pháp thích ứng với BĐKH. Thích ứng là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con ngƣời để phù hợp với môi trƣờng mới hoặc môi trƣờng bị thay đổi. Sự thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con ngƣời để ứng phó với tác động thực tại hoặc tƣơng lai của khí hậu,do đó làm giảm hoặc tận dụng những mặt có lợi,đồng thời tạo cho con ngƣời hoặc cộng đồng có sự chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện tinh thần, vật chất, kỹ năng và tập quán, thói quen sinh sống, ổn định sinh kế để họ có thể “sống chung” với sự thay đổi do các yếu tố khí hậu tác động đến khu vực quan tâm.
Nói một cách khác mục đích của thích ứng với BĐKH là giảm sự tổn thƣơng, tăng cƣờng năng lực đối phó, quản lý và giảm rủi ro do tác động của khí hậu tới cuộc sống cũng nhƣ sinh kế của ngƣời dân. Hệ thống khí hậu Trái Đất Nguồn gốc Trái Đất của chúng ta hình thành cách đây khoảng 4,5 đến 5 tỷ năm. Khi đó, khí quyển sơ sinh rất nghèo nàn, không có hơi nƣớc, ôxi và nhiều khí khác nhƣ ngày nay, mà chủ yếu chỉ có H, He và bụi vũ trụ. Những biến động của Trái Đất sau đó đã làm thoát ra từ lòng đất (mantia) nhiều loại khí giống nhƣ các khí thoát ra của núi lửa hiện nay nhƣ: HBr, HI, HCl, HF, NH3, S, SO2, H2S, CH4, CO2, CO và hơi nƣớc cùng với H và Ar,.