mở đầu cho kỷ nguyên ứng dụng thành quả của cuộc cách mạng xanh lần thứ hai. Tương tự, giống lúa MTL2 do Trường Đại học Cần Thơ chọn được bắt nguồn từ giống nhập nội IR2307-247-2-2-3, đưa ra sản xuất năm 1979 là giống có khả năng kháng rầy và thích ứng rộng, bắt nguồn từ IRRI (thông qua Chương trình thử nghiệm lúa quốc tế). Những giống lúa được Trường Đại học Cần Thơ xin công nhận giống quốc gia như: MTL30 (IR9129-192-2-3-5) được công nhận giống quốc gia năm 1982, MTL58 (IR13240-108-2-2-3) được công nhận giống quốc gia năm 1987, MTL83 (IR29723-143-3-2-1) và MTL87 (IR50404-57-2-2-3) được công 6 luan an nhận giống quốc gia năm 1990, MTL98 (IR54751-2-44-15-24-3), MTL99 (IR56450-28-2-2), MTL103 (IR54751-2-34-10-6-2), MTL105 (IR54751-2-41- 10-5-1), MTL110 (IR54742-23-19-16-10-3), … cũng được công nhân giống quốc gia những năm tiếp theo.2 Tình hình sưu tập và bảo tồn nguồn gen cây lúa trong thời gian qua của Việt Nam Theo Trung tâm Bảo tồn và Phát triển nguồn gen cây trồng - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, từ năm 2001-2011 đã thu thập và lưu giữ được 1.090 mẫu giống lúa địa phương Việt Nam. Số mẫu thu thập được nhiều mẫu nhất là ở Lào Cai (254 mẫu giống) và Sơn La (232 mẫu giống lúa).
Đặc biệt là vùng cao, có nhiều dân tộc sinh sống có số mẫu giống thu thập càng đa dạng. Trong đó, có 459 mẫu giống lúa nếp, 631 mẫu giống lúa tẻ. Phân loại theo loài phụ có 496 mẫu giống lúa thuộc loài phụ Japonica, 543 mẫu giống lúa thuộc loài phụ Indica và 51 mẫu giống thuộc loài phụ Javanica. Theo thời gian sinh trưởng có 1.090 mẫu giống lúa được chia làm 3 nhóm, nhóm thời gian sinh trưởng (TGST) ngắn có 443 mẫu, nhóm TGST trung bình 512 mẫu và nhóm TGST dài 145 mẫu.
Bên cạnh đánh giá các đặc tính nông sinh học còn sử dụng chỉ thị phân tử ADN để phát hiện một số tính trạng đặc biệt nhằm khai thác hiệu quả hơn quỹ gen (Phan Hữu Tôn và ctv. Theo Bùi Chí Bửu và ctv. (1992) công tác sưu tập quỹ gen Vùng đồng bằng sông Cửu Long được bắt đầu từ năm 1977. Các vùng trọng tâm đã được xác định là Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, Tây Sông Hậu, vùng ven biển ĐBSCL.
Việc thu thập nguồn tài nguyên di truyền cây lúa không những chỉ tập trung tại các vùng trọng tâm này, mà còn được thực hiện tại Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, duyên hải miền Trung, hơn 1.800 mẫu lúa giống cổ truyền và 160 quần thể lúa hoang dại được sưu tập, 438 mẫu giống lúa trồng từ những nước khác, đang được bảo quản tại Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long. Trường Đại học Cần Thơ đang bảo quản 2.500 mẫu giống, trong đó có 1.300 mẫu giống lúa mùa vùng Đồng bằng sông Cửu Long, 500 mẫu giống lúa rẫy, phần còn lại là giống lai tạo trong nước và nhập nội từ IRRI (Huỳnh Quang Tín và Lê Thành Đương, 2003). Đặc tính giống nổi trội của bộ giống sưu tập là có nhiều giống phẩm chất gạo ngon. Nhóm lúa mùa địa phương đặc sản Nam Bộ: Một bụi, Trắng tép, (vùng bán đảo Cà Mau), Móng chim, Xương gà, Bằng tây (Long An, Tây Ninh), Mahsuri (ven biển thuộc TP.
Hồ Chí Minh và Long An) có amylose thuộc nhóm trung bình (20,1-25%) theo IRRI (2013), thuộc nhóm mềm cao. Nhóm lúa thơm nổi tiếng như giống Nàng thơm Chợ Đào và Tàu hương. Các 7 luan an giống chủ lực khác như: Cù lựa, Trắng phước, Trắng lùn có hàm lượng amylose thuộc nhóm cao (> 25%), theo IRRI (2013) thuộc nhóm cứng cơm. Đặc biệt giống Tài nguyên ở Long An và Sóc Trăng ngon cơm.
Các giống nếp được sưu tập trong sản xuất hiện nay có mức độ thoái hoá rất lớn, hàm lượng amylose cao biến thiên từ 9-11% thay vì nằm trong tiêu chuẩn 2-5%, như: Nếp bà bóng, Nếp lá xanh. Giống lúa mùa địa phương được trồng phổ biến giai đoạn những năm 1990s có giống Lúa tiều (Tiều bún, Tiều mằn) ở Cái bè, Nàng loan, Tàu hương ở huyện Chợ Lách và tỉnh Vĩnh Long. Hiện nay chỉ còn tìm thấy rải rác, diện tích nhỏ trong dân như: giống Nàng loan, Trắng hoà bình được tìm thấy ở các huyện ven biển của Bến Tre, Trà Vinh; giống Móng chim, Móng chim rơi có thể tìm thấy ở Sóc Trăng, Kiên Giang; giống Nàng nhen là gạo đặc sản ở vùng Bảy Núi (An Giang) do nông dân người Khơme duy trì, có hạt gạo dài, mềm cơm. Theo Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang (2007), các giống lúa thơm cổ truyền kèm theo tính chống chịu điều kiện bất lợi nổi bậc được ghi nhận: - Chống chịu phèn: Nàng thơm Bình Chánh, Nàng thơm Đức Hoà.
- Chống chịu mặn: Nàng thơm Chợ Đào, Nàng hương, Nàng thơm Thủ Thừa. - Chống chịu hạn: Nếp than, Nếp trắng, Tài nguyên Theo Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang (2007), các giống lúa được thu thập ở những vùng canh tác có điều kiện bất lợi như phèn mặn: Nàng co, Tiêu xồi ở vùng mặn Gò Công; Ba đuông, Vệ phích, Nàng phượt ở Trà Vinh; Sóc nâu, Đốc đỏ ở Long An, Bạc Liêu; Tiêu chùm ở vùng ngập mặn Phú Xuân, Nhà Bè; Moi Mia, Boi roi cua, Komka ở đất phèn Hà Tiên tỉnh Kiên Giang. Đốc phụng, Lúa thước, Cà đung đỏ, Cà đung lá ở đất phèn Long An; giống lúa Trường hưng, Tàu binh, Đuôi trâu ở vùng đất phèn, lúa nổi của Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An. Những giống lúa nổi có khả năng vượt nước 10-15 cm/ngày ở Tứ Giác Long Xuyên là Nàng tây đùm, Nàng lên, Ba bông, Chệt cụt, … 2.2 Đánh giá quỹ gen một số giống lúa mùa vùng ĐBSCL 2.1 Phân loại giống theo vùng canh tác và đặc tính nông học 2.1 Phân loại giống theo vùng canh tác Các giống lúa mùa vùng ĐBSCL có thời gian sinh trưởng (TGST) khác nhau, dựa vào thời điểm trỗ bông chia các giống lúa mùa thành ba nhóm chính: Lúa mùa sớm, lúa mùa lỡ, lúa mùa muộn.
- Lúa mùa sớm thu hoạch trong khoảng tháng 10 đến tháng 11, canh tác được ở những vùng không chủ động được nước, đất cao và nước rút sớm như An Giang. 8 luan an - Lúa mùa lỡ thu hoạch trong khoảng tháng 12 thường cấy ở những vùng ven biển bị ảnh hưởng ở nước mặn vào cuối vụ như Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng, các giống này thường cao cây, quang cảm trỗ bông vào thời điểm giao mùa. - Lúa mùa muộn là giống quang cảm mạnh thu hoạch trong khoảng tháng 1 và 2 năm sau, giống lúa này thường cấy ở những vùng trũng nước rút chậm, như những vùng trũng Đồng Tháp Mười, vùng đệm rừng quốc gia U Minh. Hầu hết các giống lúa mùa đều có tính cảm ứng đối với ánh sáng (tính cảm quang) chỉ thu hoạch vào một thời điểm nhất định trong năm dù thời gian cấy có khác nhau (nên được gọi là lúa mùa vì trỗ và chín theo mùa).
Lợi dụng đặc tính này nên người nông dân chọn những giống lúa mùa phù hợp với điều kiện đất của mình để canh tác, nhằm khai thác hợp lý tài nguyên đất đai, dựa trên nguồn lực nông hộ và đặc thù điều kiện tự nhiên. Căn cứ vào chế độ nước (ngập sâu hay cạn) có thể chia 1.050 giống lúa địa phương ở ĐBSCL thành 3 nhóm giống tuỳ theo vùng rõ rệt (Bảng 2. - Vùng lúa nổi thường được trồng tại vùng đầu nguồn, vùng ngập lũ sâu như: An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Long An có 90 giống chiếm tỷ lệ 8,6%, giống tiêu biểu là Tàu binh, Nàng tây, Bông sen, … Đặc tính nhóm giống này là có khả năng vươn lóng theo mức độ dâng của nước lũ. - Vùng lúa cấy 2 lần: 85 giống chiếm tỷ lệ 8,1% thường là những giống mùa muộn quang cảm mạnh, khả năng nảy chồi mạnh như Ba kiêu, Tàu hương, Châu hạng võ, … trồng phổ biến ở Hậu Giang, Cửu Long, Đồng Tháp nơi trũng và có mực nước sâu 0,5-1,0 m, rút chậm, các giống lúa này thu hoạch muộn.
Ưu điểm của biện pháp cấy 2 lần là giảm được lượng giống, nông dân có thời gian để cải tạo đất như: rửa mặn, diệt cỏ và làm bằng mặt ruộng, đồng thời giúp hạn chế chồi vô hiệu, giảm sâu bệnh do hạn chế được lá ủ, giảm chiều cao cây lúa giúp cho việc thu hoạch được thuận lợi.4: Số giống và tỷ lệ các nhóm lúa địa phương được phân theo vùng và tập quán canh tác Nhóm lúa Số Tỷ lệ Vùng canh tác giống (%) Lúa nổi 90 8,6 An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Long An Lúa cấy 2 lần 85 8,1 Hậu Giang, Cửu Long, Đồng Tháp Lúa cấy 1 lần 875 83,3 Khắp các tỉnh Nguồn: Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, Trường Đại học Cần Thơ, 1982. 9 luan an - Vùng lúa cấy 1 lần: Phân bố khắp các tỉnh trong vùng có 875 giống chiếm tỷ lệ 83,3%, vùng này thường trồng các giống thuộc nhóm lúa mùa sớm và lúa mùa lỡ, thường được trồng ở những nơi nước cạn. Nhóm giống này thường có khả năng nảy chồi trung bình.2 Thời gian sinh trưởng Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) TGST của cây lúa có thể thay đổi theo phương pháp gieo: Cấy thường có thời gian sinh trưởng dài hơn sạ; khu vực địa lý, một số giống lúa của miền Nam có thời gian sinh trưởng dài hơn khi trồng ở miền Bắc. TGST của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu là do giai đoạn tăng trưởng dài hay ngắn.
TGST là một đặc tính di truyền của giống nhưng cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố như: thời tiết, mùa vụ, độ phì của đất,. Theo báo cáo khảo sát đặc tính TGST của các giống lúa mùa được tổng kết qua 4 năm (1977-1981) cho thấy tính từ ngày gieo (20-23/6) đến ngày gặt (lúc 80% hạt chín). Các giống có TGST biến thiên từ 110 ngày (giống sớm) đến trên 220 ngày (giống muộn). Đa số giống có TGST từ 161-220 ngày (Bảng 2.5: Phân bố thời gian sinh trưởng các giống lúa địa phương tại vùng ĐBSCL TT Thời gian sinh trưởng (ngày) Số giống Tỷ lệ (%) 1 100-120 17 1,6 2 121-140 74 7,0 3 141-160 50 4,8 4 161-180 278 26,4 5 181-200 33 32,0 6 201-220 263 25,0 7 Trên 220 34 3,2 Tổng cộng 1.050 100 Nguồn: Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, Trường Đại học Cần Thơ, 1982.
Đối với phần lớn giống địa phương TGST tính bằng số ngày thường thay đổi theo thời gian gieo trồng do đặc tính quang cảm của các giống này (trừ giống sớm). Gieo vào mùa nghịch các giống sớm thu hoạch vào các tháng 5 và 6, trong khi giống mùa lỡ và mùa muộn chỉ ra hoa vào cuối năm và tăng trưởng rất chậm trong giai đoạn đầu.