Chương 1: Tổng quan đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trang 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm năng suất lao động Thuật ngữ năng suất (productivity) được đưa ra vào năm 1776 bởi nhà kinh tế học Adam Smith (1723 – 1790). Nghiên cứu đã đưa ra vấn đề hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào số lượng lao động và khả năng sản xuất của lao động. Một nghiên cứu khác của Sumanth (1997), cho rằng khái niệm năng suất đầu tiên được một nhà toán học người Pháp là Quesney nói đến trong một bài báo vào năm 1766.
Cho đến năm 1883, một người Pháp khác là Littre đưa ra định nghĩa năng suất là “khả năng sản xuất”. Theo đó, thuật ngữ này được sử dụng thường xuyên khi phân tích các vấn đề về kinh tế. Dưới đây là tổng hợp một số định nghĩa về năng suất tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây.1: Một số định nghĩa năng suất Định nghĩa Tham khảo Năng suất = Khả năng sản xuất (Littre, 1883) Năng suất biểu hiện khả năng của các yếu (The British Institute of Management tố sản xuất, lao động và vốn trong việc tạo Foundation – BIM, 1976) ra giá trị Năng suất = Số đơn vị đầu ra/Số đơn vị (Chew, 1998) đầu vào Năng suất = Đầu ra thực tế/Nguồn lực đã (Sink & Tuttle, 1989) sử dụng Năng suất = Tổng thu nhập/(Chi phí + Lợi (Fisher, 1990) nhuận kỳ vọng) Năng suất là khả năng thỏa mãn những (Moseng Rolstadas, 2001) nhu cầu của thị trường bằng việc sử dụng ít nhất các nguồn lực Trang 14 Định nghĩa Tham khảo Năng suất = Đầu ra/Đầu vào = Kết quả (số (Voordt, 2004) tiền thu được)/ Chi phí Trong sản xuất, năng suất có mối tương (Appelbaum, 2005) quan với tổng doanh thu và có tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp Năng suất là hiệu quả của các yếu tố sản (Bheda, Narag & Singla, 2003) xuất, lao động và vốn trong việc tạo ra giá trị Năng suất = Đầu ra/Đầu vào = (Sản phẩm (Sauian, 2002) + Dịch vụ)/(Lao động + Nguyên vật liệu) Năng suất là việc đạt đến mục tiêu của tổ (Robbins, 2001) chức bằng cách chuyển đổi đầu vào thành đầu ra ở mức chi phí thấp nhất. Như vậy, năng suất liên quan đến cả hiệu suất và hiệu quả Năng suất là yếu tố chính quyết định chất (Thurow, 1993) lượng cuộc sống (Nguồn: Trần Thị Kim Loan và Bùi Nguyên Hùng (2009)) Theo bảng, chúng ta thấy được nhiều định nghĩa về năng suất dựa trên những quan điểm và góc độ khác nhau.
Theo Tangen (2005), năng suất là một thuật ngữ có ý nghĩa rộng, ý nghĩa của nó thay đổi tùy thuộc vào phạm vi sử dụng. Những khái niệm trên liên quan đến hai khía cạnh: định tính và định lượng. Định lượng: Năng suất = Đầu ra/Đầu vào Định tính: Năng suất = Hiệu suất * Hiệu quả Định nghĩa định lượng được sử dụng như một cơ sở đo lường kết quả với mục tiêu cải thiện, nâng cao năng suất. Định nghĩa định tính bao gồm cả hiệu suất và hiệu quả.
Năng suất cao là việc vận dụng tối ưu các nguồn lực để sản xuất sản phẩm ở mức chi phí thấp nhất có thể, cung cấp sản phẩm đến tay khách hàng với giá cả cạnh tranh và Trang 15 chất lượng như mong muốn. Mặt khác, tùy mỗi góc độ, định nghĩa năng suất cũng khác nhau: Dưới góc độ kinh tế, năng suất liên hệ đến việc tạo ra giá trị nhiều hơn cho khách hàng. Với nhiều doanh nghiệp, mục tiêu kinh tế và nền tảng cho sự tồn tại là việc tạo ra giá trị. Do đó gia tăng năng suất được đo lường bởi khái niệm giá trị gia tăng (Tangen, 2005).
Dưới góc độ quản lý, năng suất bao gồm cả hai yếu tố là tính hiệu suất và hiệu quả. Tức là đảm bảo bằng cách nào đó hàng hóa/dịch vụ được sản xuất với chí phí thấp nhất có thể được và cung cấp cho khách hàng đúng lúc, giá cả cạnh tranh với chất lượng mà họ mong muốn (Khan, 2003). Mặt khác, quan điểm truyền thống cho rằng, năng suất được hiểu một cách đơn giản. Đó là mối quan hệ (tỷ số) giữa các kết quả đầu ra với các đầu vào đã sử dụng để hình thành đầu ra đó.
Năng suất được đo lường bởi số lượng hay khối lượng sản phẩm do một lao động tạo ra trên một đơn vị thời gian. Vì thế, năng suất được xem là đồng nghĩa với năng suất lao động. Phân loại NSLĐ Căn cứ theo Bùi Thái Nguyên (2014), xét theo phạm vi NSLĐ thì có thể phân làm 2 loại: Năng suất lao động cá nhân: Là mức năng suất của người lao động, được tính dựa trên tỷ số giữa số lượng thành phẩm với thời gian lao động để hoàn thành sản phẩm đó. NSLĐ cá nhân là thước đo hiệu quả của lao động, thường biểu thị bằng sản lượng trên một giờ lao động.
NSLĐ cá nhân chiếm vai trò then chốt trong quá trình sản xuất. Việc tăng hay giảm NSLĐ cá nhân ảnh hưởng phần lớn đến sự phát triển và tồn tại của một doanh nghiệp. Năng suất lao động xã hội: Là mức năng suất của tất cả nguồn lực trong doanh nghiệp hay trên phạm vi toàn xã hội. NSLĐ xã hội được đo bằng tỷ số giữa sản lượng của doanh nghiệp hoặc xã hội với lượng lao động sống và lao động quá khứ bị hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
NSLĐ xã hội có sự hao hụt của lao động sống và lao động quá khứ. Lao động sống là mức sức tiêu hao hợp lý trong quá trình sản xuất. Lao động quá khứ là sản phẩm của lao động sống đã được vật hóa trong các khâu sản xuất trước kia (máy móc, nguyên vật liệu). Trang 16 Mối quan hệ giữa NSLĐ cá nhân và NSLĐ xã hội: Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
NSLĐ cá nhân là tiền đề cho NSLĐ xã hội. Nếu cả hai đều tăng, cho thấy mối quan hệ đồng biến, đem lại lợi ích của cả hai đều tăng. Ngược lại, khi mối quan hệ nghịch biến, NSLĐ cá nhân tăng mà NSLĐ xã hội giảm hoặc không đổi, cho thấy người lao động vì muốn tăng năng suất cá nhân mà trong quá trình sản xuất không tuân thủ các quy định, quy trình, lãng phí nguyên vật liệu. Do đó khiến cho NSLĐ xã hội giảm hoặc không tăng.
Vì vậy cần phải có sự cải tiến, thay đổi thường xuyên để mối quan hệ giữa NSLĐ cá nhân và xã hội cùng chiều, đem lại lợi ích tối ưu nhất. Các thuyết về năng suất lao động 2. Lý thuyết về phương thức tăng năng suất lao động của Adam Smith Người được xem là cha đẻ của kinh tế học đương thời - Adam Smith, ông đã đưa ra các lý thuyết đề cập hầu hết các vấn đề kinh tế mà thời đại phải đối mặt, bao gồm lý thuyết về cách thức gia tăng năng suất lao động. Theo ông, yếu tố ảnh hưởng đến NSLĐ bao gồm: phân công lao động và tay nghề của lao động.
Lý thuyết về sự phân công lao động của ông giải thích cách thức phân công lao động làm tăng sản lượng vượt trội hơn so với công nhân làm tất cả công đoạn. Lý thuyết về tiền lương của ông giải thích về cách thúc đẩy người lao động làm việc để từ đó giải quyết vấn đề tăng sản lượng cho doanh nghiệp. Quan điểm của ông là NSLĐ phản ánh tỷ lệ sản phẩm đầu ra trên một đơn vị lao động. Nếu tìm được cách tăng NSLĐ thì chắc chắn sản lượng sẽ tăng.
Ông giải thích vấn đề này bởi ba yếu tố khác nhau. Đầu tiên, sự phân công lao động làm tăng kỹ năng, kinh nghiệm của từng công nhân. Tiếp theo, sẽ giảm thiểu thời gian chuyển từ loại công việc này sang loại công việc khác. Cuối cùng là phát minh ra các loại máy chuyên dùng làm cho lao động nhẹ nhàng hơn và một người có thể làm việc của nhiều người.
Lý thuyết của Các Mác về năng suất lao động Thông qua quan điểm của Các Mác về năng suất lao động, thấy được nhân tố khoa học công nghệ sẽ giúp tăng năng suất lao động một cách bền vững vì đó là phương thức tốt nhất để giảm thời gian sản xuất khi xét cùng một sản phẩm.Mác, NSLĐ là sự gia tăng sức sản xuất, có thể hiểu rằng sự thay đổi trong cách thức lao động, làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá, sao cho số lượng lao động ít hơn mà lại có được sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn. Tăng NSLĐ Trang 17 có nghĩa là giảm chi phí lao động cho một đơn vị sản phẩm.Mác đã viết rằng, sức sản xuất của lao động càng lớn thì thời gian lao động tất yếu để sản xuất ra một vật phẩm sẽ càng ngắn và khối lượng lao động kết tinh trong sản phẩm đó càng nhỏ. Tăng NSLĐ là một quy luật kinh tế chung cho mọi hình thái xã hội. Nhưng sự vận động và biểu hiện của quy luật tăng NSLĐ trong các hình thái xã hội khác nhau cũng khác nhau, do trình độ lực lượng sản xuất khác nhau.
Một số nghiên cứu về năng suất lao động 2. Các nghiên cứu quốc tế Những nghiên cứu đề cập đến năng suất lao động được các tác giả trước nghiên cứu và phân tích bao quát với nhiều quan điểm, lĩnh vực. Trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ giới thiệu một số nghiên cứu về năng suất lao động trên thế giới và Việt Nam. Đầu tiên là nghiên cứu của tổ chức năng suất châu Á (2000).
Tổ chức APO đã nghiên cứu lý thuyết và xác định có 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến năng suất bao gồm: Cam kết của quản lý cấp cao, hướng đến khách hàng, quản lý sản xuất, quản lý nhân sự và mối quan hệ trong doanh nghiệp. Nghiên cứu của Chapman & Al-Khawaldeh (2002). Nghiên cứu định lượng được thực hiện trên đối tượng là các nhà quản lý chất lượng tại các công ty công nghiệp tại Jordan. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có 4 nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động bao gồm: sự cam kết của quản lý cấp cao, quản trị sản xuất, quản trị nhân lực và mối quan hệ trong doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Khan (2003), một nghiên cứu lý thuyết đưa ra 2 nhóm yếu tố tác động đến năng suất là sự cam kết của quản lý cấp cao và quản lý sản xuất. Nghiên cứu của Politis, J. (2005), đây là 1 nghiên cứu định lượng trên 140 nhân viên của một tổ chức công nghệ cao tại UAE.