Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về hiểu biết tài chính cá nhân đóng vai trò thiết yếu đối với việc quản trị tài sản vi mô của cá nhân, hộ gia đình cũng như sự ổn định kinh tế vĩ mô quốc gia. Theo các khảo sát quốc tế, việc trang bị kiến thức tài chính cho giới trẻ là trọng tâm trong chính sách của nhiều chính phủ nhằm thúc đẩy tăng trưởng và giảm nghèo (Faboyede & cộng sự, 2015). Báo cáo từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2015) ghi nhận 59 quốc gia đã xây dựng chiến lược giáo dục tài chính toàn diện. Tại khu vực Đông Nam Á, tính đến năm 2016 đã có 5 quốc gia ban hành chiến lược cấp quốc gia, tiêu biểu là Malaysia và Singapore (Thùy Lê, 2019).

Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020. Tuy nhiên, các báo cáo điều tra trước đó cho thấy mức độ hiểu biết tài chính tại Việt Nam còn ở mức thấp. Khảo sát của OECD (2012) xếp Việt Nam ở vị trí 26/28 quốc gia tham gia khảo sát; 33% người được hỏi không lập ngân sách quản lý thu chi (OECD, 2014). Tỷ lệ người dân có mức hiểu biết tài chính trên trung bình chỉ đạt 24%, trong khi có tới 93% không có hứng thú cải thiện (Dougn, 2019; Trần Thanh Thu & cộng sự, 2020). Sinh viên là nhóm đối tượng chuẩn bị bước vào thị trường lao động, độc lập về tài chính nhưng dễ tổn thương trước các rủi ro kinh tế do thiếu hụt kiến thức quản lý tiền tệ. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố chi phối hiểu biết tài chính của sinh viên tại Thành phố Thủ Đức là yêu cầu thực tiễn cấp thiết.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Nghiên cứu thực trạng hiểu biết tài chính cá nhân của sinh viên tại Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết tài chính cá nhân của nhóm đối tượng nghiên cứu.
  3. Tìm ra và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về tài chính cá nhân cho sinh viên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết tài chính cá nhân của sinh viên.
  • Đối tượng khảo sát: Sinh viên đang theo học tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện và thu thập dữ liệu từ tháng 10/2022 đến tháng 01/2023.
  • Giới hạn nghiên cứu: Tập trung vào mức độ hiểu biết tài chính cá nhân và các đặc trưng nhân khẩu học, học tập, hoàn cảnh gia đình của sinh viên tại khu vực khảo sát.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc hệ thống hóa các khái niệm học thuật và công cụ đo lường tài chính cá nhân chuẩn hóa:

  • Khái niệm và định nghĩa: Tài chính cá nhân được tiếp cận theo định nghĩa của Garman & Forgue (2014) và tổng hợp từ nhiều tổ chức quốc tế (OECD, Australian Unity, ANZ, FINRA, Jump$tart, ASIC). Hiểu biết tài chính (Financial Literacy) được xác định là sự kết hợp giữa nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi cần thiết nhằm đưa ra các quyết định tài chính hợp lý để đạt được phúc lợi tài chính cá nhân (OECD, 2012; Remund, 2010; Atkinson & cộng sự, 2012). Đi kèm là các khái niệm bổ trợ: thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm, đầu tư, lãi suất và lạm phát.
  • Mô hình nghiên cứu đề xuất: Kế thừa từ các nghiên cứu thực nghiệm của Chen & Volpe (1998, 2002), Cole & cộng sự (2008), Mohamad (2010), Murphy (2005), Jariah & cộng sự (2004), và Nguyễn Thị Hải Yến (2015). Mô hình gồm biến phụ thuộc là Điểm hiểu biết tài chính cá nhân ($Y$) và 8 biến độc lập đại diện cho 3 nhóm yếu tố:
    1. Nhóm nhân khẩu học: Giới tính (H1), Nơi cư trú (H2).
    2. Nhóm yếu tố cá nhân: Xếp loại học lực (H3), Số năm học (H4), Ngành học (H5), Tình trạng việc làm (H6).
    3. Nhóm ảnh hưởng gia đình: Xuất thân (H7), Học vấn của bố mẹ (H8).

Phương pháp nghiên cứu thực tế và quy trình xử lý dữ liệu:

  • Thu thập dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi trực tuyến trên Google Form, phân phối qua mạng xã hội (Facebook, Zalo) và hòm thư điện tử (Email). Thang đo hiểu biết tài chính gồm 10 câu hỏi trắc nghiệm khách quan về lãi suất, tín dụng, lạm phát, lập ngân sách chi tiêu, bảo hiểm, cổ phiếu và các kênh đầu tư tài chính, kế thừa từ bộ câu hỏi của OECD/INFE (2018) và Nguyễn Thị Ngân Hà, Nguyễn Đỗ Quyên (2021). Mỗi câu trả lời đúng được tính 10 điểm, tối đa 100 điểm. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các công trình nghiên cứu, kỷ yếu khoa học và cơ sở dữ liệu thống kê.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản (Simple Random Sampling - SRS) thông qua công cụ tạo số ngẫu nhiên random.org dựa trên danh sách sinh viên hai trường đại học khảo sát. Cỡ mẫu tối thiểu được xác định theo quy tắc của Tabachnick & Fidell (2007) ($n \ge 50 + 8p$, với $p = 14$ biến giả, yêu cầu $n \ge 162$). Khóa luận tiến hành khảo sát và thu về $n = 172$ quan sát hợp lệ.
  • Phương pháp phân tích số liệu:
    1. Thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình).
    2. Kỹ thuật biến giả (Dummy variable) mã hóa 14 biến giả cho các thuộc tính định tính.
    3. Mô hình hồi quy tuyến tính bội đa biến (Multiple Linear Regression - MLR).
    4. Phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA), kiểm định phương sai Levene và kiểm định $T$-test mẫu độc lập (Independent Samples T-Test) để đánh giá sự khác biệt giá trị trung bình giữa các nhóm thuộc tính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương 1 làm rõ tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh tỷ lệ hiểu biết tài chính của giới trẻ Việt Nam còn thấp so với mặt bằng quốc tế. Tác giả xác lập mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, phạm vi nghiên cứu không gian tại Thành phố Thủ Đức, thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 01/2023, giới hạn nghiên cứu tập trung vào sinh viên hai trường đại học trên địa bàn và bố cục 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Tổng quan

Chương 2 trình bày tổng quan về hai cơ sở đào tạo được khảo sát: Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (thành lập năm 1955, khuôn viên 118 ha, quy mô khoảng 22.000 sinh viên, Khoa Kinh tế có trên 4.000 học viên) và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (tiền thân thành lập năm 1962, quy mô gần 30.000 sinh viên tại số 1 Võ Văn Ngân).

Tiếp đó, chương phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước về các nhân tố tác động đến hiểu biết tài chính như tuổi tác (Lusardi & Mitchell, 2011), giới tính (Chen & Volpe, 2002; Kharchenko & Olga, 2011), nơi cư trú và sinh hoạt (Cole & cộng sự, 2008; Mohamad, 2010), kết quả học tập GPA và thâm niên đại học (Jariah & cộng sự, 2004), học vấn cha mẹ (Murphy, 2005), cùng các yếu tố tâm lý xã hội như mức độ chấp nhận rủi ro và tín ngưỡng (Agnew & cộng sự, 2007; Renneboog & Spaenjers, 2009). Phần tổng quan trong nước điểm lại các kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới tại Hà Nội, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Yến (2015), Trần Thanh Thu và cộng sự (2020), và Lê Hoàng Anh cùng nhóm tác giả (2019), từ đó chỉ ra khoảng trống dữ liệu thực nghiệm tại khu vực Thành phố Thủ Đức.

Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 xây dựng khung lý thuyết chi tiết, định nghĩa các thuật ngữ kinh tế cá nhân và trích dẫn các thang đo quốc tế về hiểu biết tài chính từ OECD, Jump$tart, ANZ, AU. Chương này thiết lập mô hình hồi quy tuyến tính bội dạng tổng quát:

$$Y = \beta_0 + \beta_1 Z_1 + \beta_2 Z_2 + \dots + \beta_{14} Z_{14} + e$$

Trong đó $Z_1$ đến $Z_{14}$ là các biến giả đại diện cho Giới tính, Nơi cư trú, Xuất thân, Xếp loại học lực, Số năm học, Ngành học, Tình trạng việc làm và Học vấn của bố mẹ. Nhóm cơ sở (nhận giá trị 0) gồm: Nam, Đã hoặc đang làm thêm, Sinh viên năm 4, Ngành khác, Học lực Trung bình/Yếu, Thuê trọ ngoài, Xuất thân Thành thị, Học vấn bố mẹ Đại học/Sau Đại học. Quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản $n = 172$ và phương pháp phân tích ANOVA, Independent Samples T-Test cũng được chuẩn hóa chi tiết.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu thống kê mô tả và kết quả kiểm định mô hình định lượng.

Thực trạng nhu cầu và mức độ hiểu biết tài chính:

  • Nhu cầu hiểu biết tài chính: Có 163/172 sinh viên quan tâm đến tài chính cá nhân (chiếm 94,8%), chỉ có 9 sinh viên không quan tâm (chiếm 5,2%). Trong nhóm quan tâm, nữ giới chiếm 58,9% (96 người) và nam giới chiếm 41,1% (67 người).
  • Điểm hiểu biết tài chính cá nhân (ĐHBTCCN): Điểm số trung bình toàn mẫu đạt 57,33/100 điểm, thuộc mức trung bình - thấp. Không có sinh viên đạt 0 điểm. Mức điểm 50 chiếm tỷ lệ cao nhất với 20,3% (35 sinh viên), điểm 70 chiếm 18,6% (32 sinh viên), điểm 40 chiếm 16,9% (29 sinh viên). Mức điểm tuyệt đối (100 điểm) chỉ có 6 sinh viên đạt được (3,5%), và 1 sinh viên đạt mức điểm thấp nhất là 10 điểm (0,6%).
Thang điểm ĐHBTCCN Số lượng sinh viên (người) Tỷ lệ phần trăm (%)
10 điểm 1 0,6
20 điểm 4 2,3
30 điểm 18 10,5
40 điểm 29 16,9
50 điểm 35 20,3
60 điểm 19 11,0
70 điểm 32 18,6
80 điểm 18 10,5
90 điểm 10 5,8
100 điểm 6 3,5
Tổng cộng 172 100,0

Đặc điểm mẫu khảo sát:

  • Giới tính: 98 nữ (57,0%), 74 nam (43,0%).
  • Năm học: Năm 1 có 41 sinh viên (23,8%), Năm 2 có 34 sinh viên (19,8%), Năm 3 có 49 sinh viên (28,5%), Năm 4 có 48 sinh viên (27,9%).
  • Ngành học: 59 sinh viên khối ngành kinh tế (34,3%), 113 sinh viên ngành phi kinh tế (65,7%).
  • Xếp loại học lực: Xuất sắc/Giỏi có 29 sinh viên (16,9%), Khá có 113 sinh viên (65,7%), Trung bình/Yếu có 30 sinh viên (17,4%).
  • Tình trạng việc làm: Đã/đang đi làm thêm có 133 sinh viên (77,3%), chưa từng làm thêm có 39 sinh viên (22,7%).
  • Nơi ở: Thuê ngoài chiếm 45,3% (78 sinh viên), Ký túc xá chiếm 30,8% (53 sinh viên), Ở cùng gia đình/người thân chiếm 23,8% (41 sinh viên).
  • Hoàn cảnh kinh tế gia đình: Trung bình chiếm 76,2% (131 người), Khá giả/Giàu chiếm 13,4% (23 người), Nghèo/Cận nghèo chiếm 10,5% (18 người).
  • Nguồn thu nhập (tổng 285 lựa chọn): Chu cấp từ gia đình/người thân chiếm 87,8% số người được hỏi (151 lựa chọn); Làm thêm/tự kinh doanh chiếm 58,7% số người (101 lựa chọn); Học bổng chiếm 14,5% (25 lựa chọn); Vay tiền chiếm 4,7% (8 lựa chọn).
  • Mức thu nhập hàng tháng: Dưới 3 triệu đồng chiếm 49,4% (85 người); Từ 3 đến dưới 5 triệu đồng chiếm 40,7% (70 người); Trên 7 triệu đồng chiếm 7,0% (12 người); Từ 5 đến dưới 7 triệu đồng chiếm 2,9% (5 người).

Kết quả hồi quy và kiểm định khác biệt trung bình: Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội MLR kết hợp phân tích ANOVA và Independent Samples T-Test xác định có 3 yếu tố độc lập có tác động có ý nghĩa thống kê đến mức độ hiểu biết tài chính cá nhân của sinh viên:

  1. Xếp loại học lực: Tác động thuận chiều ($+$); sinh viên có xếp loại học lực Xuất sắc/Giỏi có điểm hiểu biết tài chính cao hơn có ý nghĩa so với nhóm học lực Khá và Trung bình/Yếu.
  2. Số năm học: Tác động thuận chiều ($+$); sinh viên năm 3 và năm 4 đạt điểm hiểu biết tài chính cao hơn sinh viên năm 1 và năm 2.
  3. Ngành học: Sinh viên theo học khối ngành kinh tế có mức độ hiểu biết tài chính cao hơn nhóm sinh viên thuộc các ngành đào tạo khác.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương 5 đúc kết các phát hiện định lượng chính, nhấn mạnh mức hiểu biết tài chính trung bình của sinh viên đạt 57,33 điểm và chỉ ra 3 nhân tố chi phối mang tính quyết định (Học lực, Số năm học, Ngành học). Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng hệ thống khuyến nghị thực tiễn cho cơ sở giáo dục đại học và cơ quan quản lý nhà nước.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Thực trạng hiểu biết tài chính: Xác lập điểm số hiểu biết tài chính bình quân của sinh viên tại Thành phố Thủ Đức là 57,33/100 điểm, phản ánh năng lực tài chính cá nhân chỉ dừng ở mức trung bình - thấp, tương đồng với kết luận của Ngân hàng Thế giới khi khảo sát sinh viên tại Hà Nội.
  • Nhu cầu nhận thức: 94,8% sinh viên nhận thức được tầm quan trọng và bày tỏ nhu cầu trau dồi kiến thức quản lý tài chính cá nhân; trong đó sinh viên nữ thể hiện sự quan tâm cao hơn nam giới (58,9% so với 41,1%).
  • Xác định các yếu tố tác động: Mô hình thực nghiệm khẳng định 3 biến có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê:
    • Xếp loại học lực: Năng lực học tập tỷ lệ thuận với điểm số hiểu biết tài chính.
    • Số năm học: Thời gian tích lũy tại giảng đường đại học giúp gia tăng nhận thức tài chính qua từng năm học.
    • Ngành học: Việc tiếp cận các môn học kinh tế - quản trị nền tảng giúp sinh viên khối kinh tế có ưu thế rõ rệt về điểm số tài chính so với khối kỹ thuật, công nghệ và nông nghiệp.

Giải pháp và kiến nghị đề xuất

  • Đối với các trường đại học:
    • Thiết kế và đưa các môn học quản lý tài chính cá nhân cơ bản vào chương trình đào tạo dưới dạng môn học đại cương hoặc tự chọn cho toàn bộ sinh viên không chuyên kinh tế.
    • Tích hợp nội dung giáo dục tài chính vào các học phần liên quan và tổ chức các chương trình ngoại khóa, câu lạc bộ, hội thảo chuyên đề về lập ngân sách, kỹ năng quản lý nợ, đầu tư và phòng tránh bẫy tín dụng.
  • Đối với Chính phủ và cơ quan quản lý:
    • Tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức tài chính toàn diện thông qua các kênh truyền thông đại chúng phù hợp với giới trẻ nhằm thực thi hiệu quả Quyết định số 149/QĐ-TTg.
    • Xây dựng các cổng thông tin hoặc ứng dụng chuẩn hóa quốc gia về phổ biến kiến thức tài chính tiêu dùng cho học sinh, sinh viên.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm sơ cấp có giá trị đại diện cho địa bàn Thành phố Thủ Đức — trung tâm đại học trọng điểm của Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu kiểm chứng mô hình lý thuyết quốc tế (OECD/INFE) trong điều kiện cụ thể của sinh viên Việt Nam, làm sáng tỏ vai trò chi phối của các yếu tố học thuật đối với năng lực tài chính cá nhân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các giới hạn nghiên cứu được chỉ ra từ thực tế triển khai:

  • Phạm vi khảo sát và quy mô mẫu: Nghiên cứu mới dừng lại ở cỡ mẫu $n = 172$ sinh viên, thu thập tập trung tại hai cơ sở đào tạo là Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM trên địa bàn Thành phố Thủ Đức, chưa bao quát toàn bộ các trường đại học khác trong khu vực ĐHQG TP.HCM và trên toàn địa bàn thành phố.
  • Giới hạn biến số: Một số yếu tố nhân khẩu học và gia đình (như nơi ở, xuất thân nông thôn/thành thị, học vấn của bố mẹ, việc làm thêm) chưa thể hiện ý nghĩa thống kê rõ nét trong mô hình phân tích hồi quy tại cỡ mẫu này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả định hướng mở rộng dung lượng mẫu khảo sát đa tầng, tăng cường phạm vi tiếp cận liên trường và bổ sung các biến số hành vi, thái độ tâm lý tài chính chuyên sâu để tăng cường độ chính xác cho mô hình dự báo.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và nội dung cụ thể:

  • Sinh viên và học viên ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế: Cung cấp tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp định lượng hoàn chỉnh, từ tổng quan tài liệu, thiết kế bảng hỏi khảo sát OECD/INFE, kỹ thuật xử lý biến giả (Dummy variable) trong mô hình hồi quy đa biến MLR đến các bước kiểm định ANOVA và $T$-test trên SPSS.
  • Nhà quản lý giáo dục và ban giám hiệu các trường đại học: Dữ liệu thực trạng thu nhập (49,4% sinh viên có thu nhập dưới 3 triệu/tháng, 87,8% phụ thuộc vào gia đình) và điểm hiểu biết tài chính (57,33 điểm) là căn cứ thực tiễn để các trường xây dựng chương trình đào tạo kỹ năng mềm, tổ chức tư vấn hướng nghiệp và hỗ trợ tài chính sinh viên.
  • Các nhà nghiên cứu về giáo dục tài chính toàn diện: Cung cấp nguồn trích dẫn dữ liệu sơ cấp và khung tham chiếu các nghiên cứu quốc tế liên quan đến hành vi tài chính giới trẻ tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức độ hiểu biết tài chính cá nhân của sinh viên trong nghiên cứu đạt kết quả ra sao?
Điểm hiểu biết tài chính cá nhân trung bình của 172 sinh viên khảo sát đạt 57,33/100 điểm, thuộc mức trung bình - thấp. Không có sinh viên bị 0 điểm, mức điểm xuất hiện nhiều nhất là 50 điểm (20,3%), tiếp theo là 70 điểm (18,6%) và chỉ có 3,5% sinh viên đạt điểm tuyệt đối 100/100.

2. Những yếu tố nào tác động có ý nghĩa thống kê đến hiểu biết tài chính của sinh viên?
Phân tích hồi quy bội và kiểm định phương sai xác định 3 yếu tố có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê gồm: Xếp loại học lực (học lực càng cao điểm tài chính càng cao), Số năm học (sinh viên năm 3, năm 4 hiểu biết tốt hơn năm 1, năm 2), và Ngành học (sinh viên khối ngành kinh tế có mức hiểu biết tài chính cao hơn khối ngành khác).

3. Cơ cấu nguồn thu nhập và mức thu nhập hàng tháng của sinh viên phân bố như thế nào?
Nguồn thu nhập chính của sinh viên đến từ sự chu cấp của gia đình/người thân (chiếm 87,8% số người được hỏi), tiếp theo là đi làm thêm/kinh doanh (58,7%), học bổng (14,5%) và vay tiền (4,7%). Về mức thu nhập, 49,4% sinh viên có thu nhập dưới 3 triệu đồng/tháng, 40,7% từ 3 đến dưới 5 triệu đồng, 2,9% từ 5 đến dưới 7 triệu đồng và 7,0% có thu nhập trên 7 triệu đồng/tháng.

4. Khảo sát ghi nhận nhu cầu tìm hiểu tài chính cá nhân của sinh viên ở mức độ nào?
Có tới 94,8% sinh viên (163/172 người) bày tỏ sự quan tâm và có nhu cầu hiểu biết về tài chính cá nhân, chỉ 5,2% không quan tâm. Trong số sinh viên quan tâm, tỷ lệ nữ giới chiếm ưu thế với 58,9% so với 41,1% ở nam giới.

5. Thang đo đo lường hiểu biết tài chính trong khóa luận được thiết kế dựa trên cơ sở nào?
Thang đo gồm 10 câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra kiến thức về lãi suất, tín dụng, lạm phát, lập ngân sách chi tiêu, bảo hiểm, cổ phiếu và các kênh đầu tư tài chính, kế thừa và điều chỉnh từ bộ công cụ đo lường chuẩn hóa của OECD/INFE (2018) và nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngân Hà, Nguyễn Đỗ Quyên (2021).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo đã hoàn thành việc phân tích thực trạng và lượng hóa các yếu tố tác động đến mức độ hiểu biết tài chính cá nhân của sinh viên tại Thành phố Thủ Đức. Kết quả thực nghiệm khẳng định mức độ hiểu biết tài chính của sinh viên đạt mức trung bình (57,33/100 điểm) và chịu sự chi phối có ý nghĩa thống kê bởi xếp loại học lực, số năm học cùng nhóm ngành đào tạo. Công trình đưa ra các hàm ý quản trị thiết thực, đề xuất cơ sở giáo dục đại học và cơ quan quản lý nhà nước nhanh chóng lồng ghép giáo dục tài chính vào chương trình giảng dạy nhằm nâng cao năng lực tự chủ kinh tế cho thế hệ trẻ.