Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu da và mô dưới da 4, 5 Da là một màng mô dai, mềm dẻo che phủ toàn cơ thể người, có diện tích lớn nhất cơ thể (ở trẻ sơ sinh khoảng 0,25m², ở người lớn khoảng 1,6- 2,0 m²), chiếm đến 4 - 6% trọng lượng cơ thể, kể cả lớp mỡ dưới da thì chiếm 16 - 17,77%. Da được cấu tạo bởi 2 lớp chính: biểu bì, trung bì. Hình minh họa cấu trúc các lớp của da 4 1.
Lớp biểu bì (thượng bì) Về cấu tạo: Là lớp mỏng, nằm ngoài cùng của da, được tái tạo sau mỗi 4-6 tuần. Lớp này bao gồm nhiều lớp tế bào dẹt sắp xếp trên màng đáy. Tùy thuộc vào vị trí mà lớp biểu bì bao gồm 4 hoặc 5 lớp nhỏ hơn, sắp xếp từ ngoài vào trong gồm: lớp sừng, lớp sáng, lớp hạt, lớp gai và lớp đáy. 3 Lớp này chủ yếu bao gồm các tế bào keratine, chiếm 90% tổng số tế bào; ngoài ra còn có các tế bào Melanine, Langerhans, Merkel và các tế bào viêm.
Các mao mạch nằm bên dưới lớp biểu bì, liên kết với các tiểu động tĩnh mạch. Về chức năng: - Hàng rào bảo vệ cơ thể: chống lại các vi sinh vật gây bệnh, chống tia UV, các chất hóa học và các sang chấn nhỏ. - Chống mất nước nhờ sự sắp xếp các tế bào lớp sừng tạo thành rào ngăn cản sự mất nước qua biểu bì. - Tái tạo, tổng hợp vitamin D.
- Chứa các tế bào sắc tố quyết định màu sắc da. Lớp trung bì Về cấu tạo: Trung bì là một lớp da nằm giữa biểu bì và hạ bì. Collagen chiếm 75% thành phần cấu tạo của trung bì 6. Dày 2-4mm, nhiều đầu tận mạch máu, thụ cảm thần kinh và những thành phần phụ của da (móng, lông, tóc, các tuyến bã, tuyến mồ hôi).
Gồm hai lớp: lớp trung bì nhú, lớp trung bì lưới. Về chức năng: - Nuôi biểu bì qua lớp nhú. - Bài tiết mồ hôi, chất nhờn, đào thải chất bã và chất độc. - Điều chỉnh thân nhiệt bằng thoát mồ hôi, co giãn lưới mao mạch.
- Tiếp nhận cảm giác cảm nhận xúc giác, nhiệt. - Tạo lớp đệm cho cơ thể khỏi chấn thương và lực căng kéo. Đảm bảo tính đàn hồi, dẻo của da. - Hấp thu thuốc qua ống tuyến, chân lông và lớp nhú của cơ thể.
- Hàng rào miễn dịch nhờ dưỡng bào, đại thực bào, bạch cầu đơn nhân, bạch cầu lympho. Lớp hạ bì Về cấu tạo: 4 Còn được gọi là mô dưới da. Chủ yếu bao gồm các tế bào mỡ và mô liên kết lỏng lẻo, chứa các mạch máu lớn, mạch bạch huyết và dây thần kinh lớn từ đó phân nhánh vào lớp trung bì. Về chức năng: - Nuôi trung bì bằng mạng lưới mạch máu phong phú.
- Giúp da di động trên cơ, gân và xương. - Hấp thu thuốc, chất hòa tan. - Lớp mỡ dày đệm đỡ, tạo hình dáng - Nguồn dự trữ, cung cấp năng lượng cho cơ thể. Các thành phần phụ thuộc da (Hình 1.
2): Một số các cấu trúc biểu mô của da cũng có nguồn gốc là biểu bì như: nang lông, tuyến bã và tuyến mồ hôi ly tiết, tuyến mồ hôi ngoại tiết. Những cấu trúc này đều giữ những chức năng và tham gia về sinh lý của da. Răng, móng cũng là các phần phụ có nguồn gốc từ vùng nối tiếp biểu bì – trung bì. Hình ảnh minh họa các thành phần phụ thuộc da 4 1.
Giải phẫu cẳng - bàn chân 1. Cẳng chân 1, 7 Về giới hạn: ở trên: đường vòng qua dưới lồi củ chày và ở dưới: đường vòng qua dưới hai mắt cá. Cẳng chân được cấu tạo bởi 2 xương dài xếp song song là xương chày và xương mác. Xương chày và xương mác được nối với nhau dọc theo chiều dài bằng 5 một màng gian cốt.
Ba cấu trúc này chia cẳng chân thành 2 vùng: vùng cẳng chân trước gồm khoang trước và khoang ngoài; vùng cẳng chân sau gồm khoang sau sâu và sâu nông. Bốn khoang cơ vùng cẳng chân 8 a. Vùng cẳng chân trước được chia thành 2 khoang: khoang trước và khoang ngoài. Được ngăn cách bởi vách gian cơ trước.
*Lớp nông: - Da và tổ chức dưới da: vùng da và mỡ dưới da vùng này mỏng và ít di động. Ở quanh mắt cá, da ít được mạch máu cung cấp vì vậy những vết thương vùng này thường chậm liền. - Thần kinh nông: TK hiển, nhánh TK bì bắp chân ngoài, TK mác nông. - Tĩnh mạch: TM hiển lớn.
*Lớp sâu: 6 Hình 1. Giải phẫu lớp sâu vùng cẳng chân trước 8 - Khoang trước gồm 3 cơ: chày trước, duỗi ngón cái dài, duỗi các ngón chân dài. - Khoang bên gồm 2 cơ: cơ mác dài và cơ mác ngắn. -Về cấu trúc mạch máu, thần kinh chính trong vùng cẳng chân trước: + Mạch máu: ĐM-TM chày trước + Thần kinh: TK mác sâu, TK mác nông b.
Vùng cẳng chân sau được chia thành 2 khoang: Khoang sau nông và khoang sau sâu. Được ngăn cách bởi vách gian cơ ngang. *Lớp nông: - Da và tổ chức dưới da: dày hơn vùng cẳng chân trước. 7 - Thần kinh nông: TK bì đùi sau, TK bì bắp chân trong, TK bì bắp chân ngoài, nhánh của TK hiển.
- Tĩnh mạch: TM hiển bé. *Lớp sâu: - Khoang sau nông gồm 3 cơ: cơ bụng chân, cơ dép và cơ gan chân. + Cơ bụng chân và cơ dép tạo thành gân Achilles để nối với xương gót. - Khoang sau sâu có 4 cơ: cơ khoeo, gấp ngón cái dài, chày sau và cơ gấp các ngón chân dài.
-Về cấu trúc mạch máu, thần kinh chính trong vùng cẳng chân sau + Động mạch: ĐM chày sau, ĐM mác. + Thần kinh: TK chày. Giải phẫu lớp sâu vùng cẳng chân sau 8 8 1. Gan chân * Lớp nông - Da và tổ chức dưới da: + Da: vùng này rất dày, chắc, dính chặt với các lớp dưới da.
+ Lớp mô mỡ dưới da dày nằm xen giữa những dải sợi rất chắc. - Thần kinh nông: các nhánh của TK chày: TK gan chân ngoài, TK gan chân trong, nhánh gót ngoài, nhánh gót trong. - Cân gan chân: Mạc và cân gan chân bám từ củ xương gót chạy ra trước chẽ ra 5 dải cho 5 ngón chân. - Tĩnh mạch nông: tạo thành mạng TM gan chân.
*Lớp sâu: các cấu trúc dưới lớp cân mạc. Lớp sâu vùng gan bàn chân 8 9 - Các cơ xếp thành 4 lớp: + Lớp cơ nông: dạng ngón cái, gấp các ngón chân ngắn, dạng ngón út. + Lớp cơ giữa: vuông gan chân, các cơ giun và 2 gân cơ gấp các ngón chân dài và gấp ngón cái dài. + Lớp cơ sâu: gồm 2 phần: Phần sau: có gân cơ chày sau và gân cơ mác dài.
Phần trước: có các cơ gấp ngón cái ngắn, khép ngón cái và gấp ngón út ngắn. + Lớp cơ gian cốt: cơ gian cốt mu chân và gian cốt gan chân. -Mạch máu: ĐM gan chân ngoài và ĐM gan chân trong. -Thần kinh: TK gan chân ngoài, TK gan chân trong.
Mu chân *Lớp nông: Hình 1. Giải phẫu mu chân 8 10 - Da: mỏng, dễ di động. -Tĩnh mạch nông: tạo thành 1 mạng TM mu chân. Mạng TM này nối với cung TM mu chân, sau đó cùng đổ vào TM hiển lớn và hiển bé.
-Thần kinh nông: TK mác nông, TK mác sâu, TK bì mu chân, TK hiển. *Lớp sâu: - Các gân: đi dưới mạc giữ gân duỗi gồm: gân cơ chày trước, gân cơ duỗi ngón cái dài, gân cơ duỗi các ngón chân dài, gân cơ mác ba. - Cơ: duỗi các ngón chân ngắn. - ĐM mu chân (từ ĐM chày trước): ĐM cổ chân ngoài và trong, ĐM cung.
KHÁI NIỆM VẾT THƯƠNG 1. Vết thương Được định nghĩa như là sự gián đoạn của mô một khoảng lớn hay nhỏ, mà có thể ảnh hưởng đến da, niêm mạc hoặc các cơ quan. Các quá trình khác nhau diễn ra theo một trật tự nhất định đều nhằm mục đích chung là sửa chữa. Điều này đạt được nhờ các phương thức hết sức năng động và phức tạp.
Vết thương khuyết hổng phần mềm Một vết thương gây tổn thương sâu, mất toàn bộ mô da và dưới da; làm lộ cấu trúc bên dưới như: cơ, xương, khớp hay gân, dây chằng thì được gọi là vết thương khuyết hổng phần mềm. Vết thương khuyết hổng sẽ không thể thể khâu kín kỳ đầu mà cần sử dụng các phương pháp điều trị khác như thay băng chờ lành thương kỳ hai, phương pháp kéo da từ từ hay cần đến các mảnh ghép da và vạt tổ chức để che phủ. PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VẾT THƯƠNG PHẦN MỀM VÙNG CẲNG - BÀN CHÂN 1. Phân loại theo độ sâu khuyết hổng 1.
Nông 11 Tổn thương và mất toàn bộ lớp da và lớp dưới da. Lộ tổ chức dưới da và mỡ nhưng chưa đến lớp gân xương, và dây chằng. Mô hoại tử vàng đục có thể có nhưng chưa tổn thương sâu vào cơ. Sâu Mất toàn bộ mô da và dưới da, làm lộ cơ xương hay gân/dây chằng.
Mô hoại tử màu vàng đục hay khô đen chiếm một phần nhỏ tổng thể đáy vết thương. Thường xuất hiện đường hầm hay lỗ dò. Phân loại theo nguyên nhân gây khuyết hổng 1. Tai nạn giao thông Chấn thương gặp trong tai nạn giao thông thường gặp ở lứa tuổi trẻ và trung niên.
Các vết thương khuyết hổng thường bẩn với nhiều đất cát, dập nát, nặng nề hơn tai nạn lao động và sinh hoạt. BN vào viện có thể có tổn thương nhiều cơ quan kèm theo, ưu tiên lúc này là phải giải quyết các tình trạng đe dọa tới tính mạng trước, sau đó mới nghĩ đến chuyện phục hồi, tạo hình chi thể. Khi BN đã ổn định (ví dụ như đường thở, hô hấp, tuần hoàn), có thể kiểm tra vết thương hở hay các biến dạng chi kỹ càng hơn, với mục đích cứu chi thể và hạn chế các biến chứng. Các đánh giá về tổn thương bao gồm: mức độ tổn thương phần mềm, sự hiện diện của gãy xương, tổn thương dây TK cảm giác và vận động, tổn thương mạch máu, và sự hiện diện của nhiễm bẩn vết thương.
Tai nạn lao động Đa số BN bị tai nạn lao động còn trẻ, trong độ tuổi lao động. Thường gặp trong các vụ đổ vỡ công trình, ngã từ trên cao khi đang làm việc, hay trong hoạt động sản xuất bị máy móc cuốn vào gây tổn khuyết phần mềm. Độ sạch bẩn của vết thương tùy vào môi trường làm việc và nguyên nhân gây chấn thương. Tai nạn sinh hoạt Thường ít gây các khuyết hổng phần mềm cấp tính hơn hai loại trên, mà thay vào đó là các vết loét mãn tính do quá trình liền thương kéo dài.