CHƯƠNG I. TOI DUA HOI LỘ THEO QUY ĐỊNH CUA LUẬT HÌNH SỰ MỘT SO QUOC GIA 1. Tội đưa hối lộ theo quy định của luật hình sự Việt Nam 1. Về khách thể và dấu hiệu nguy hiểm cho xã hội của tội đưa hối lộ Vé khách thé của tội đưa hối lộ, trước hết tác giả nhận thay Tội đưa hối lệ là tội phạm được Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định tại Chương XXIII, Mục 2: Các tội phạm khác về chức vụ.
Như vậy, bước đầu có thể xác định khách thể của tội nhận hối lộ là hoạt động đúng din, bình thường của cơ quan, tổ chức; làm suy giảm uy tín, gây mất niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào bộ máy của cơ quan, tổ chức; trong một số trường hợp gây thiệt hại lớn về kinh tế. Ngoài việc người đưa hối lộ làm cho người nhận hối lộ thực hiện hành vi trái pháp luật gây ảnh hưởng trực tiếp, thể hiện rõ ràng việc đưa hồi lộ làm suy yếu chức năng hoạt động của cơ quan, tô chức,. thì còn có trường hợp người nhận hối lộ vẫn làm đúng chức nang nhiệm vu theo quyền han của mình tuy vậy thì hành động nhận hồi lộ của người nhận hối lộ từ trước đó cũng đã xâm pham đến uy tin của cơ quan, tổ chức mà họ là thành viên, tạo nên một góc nhìn không khách quan về các hoạt động của cơ quan, tổ chức nảy. Như vậy, hành vi “dong tiền đi trước là đồng tiền khôn” của người đưa hối lộ sẽ luôn luôn gây ảnh hưởng đến hoạt động đúng dan, bình thường của cơ quan, tổ chức; làm suy giảm uy tín, gây mất niềm tin của các tang lớp nhân dân vào bộ máy của cơ quan, tổ chức; trong một số trường hợp gây thiệt hại lớn ve kinh tế.
Về dấu hiệu nguy hiểm cho xã hội của tội đưa hỗi lộ, dựa trên khách thé mà tội danh này xâm phạm, tác giả nhận thay hậu quả nguy hiểm có thé thấy rõ nhất là sự mat uy tín của các cơ quan, to chức nói riêng va cả bộ máy nhà nước nói chung trước toàn thể công chúng, gây nên tôn thất lớn trong việc vận hành cũng như phát triển đất nước. Tuy vậy, tội đưa hối lộ được xác định là cầu thành tội phạm hình thức do đó hậu quả không phải lả dấu hiệu bắt buộc dùng để định tội đưa hồi lộ bởi cho dù hậu quả chưa xảy ra thì hành vi của người phạm tội vẫn cấu thành tội phạm. Về chủ thể của tội đưa hối lộ Dấu hiệu về chủ thể là dấu hiệu bắt buộc chung trong mọi cấu thành của tội phạm. Ap dụng với tội phạm đưa hoi lộ, chủ thể của tội phạm nay cũng phải thỏa mãn tat cả các yếu tố về độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015.
Theo đó, bất kỳ người nảo có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên đều có thé là chủ thé của tội nhận hối lộ. Đối chiếu hai quy định của tội đưa hố: lộ và tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ quy định “Người nào trực tiếp hay qua trung gian đã dua hoặc sẽ đưa cho người có chức vu, quyên hạn.” và tội nhận hối lộ quy định “Người nào lợi dung chức VỤ, quyên hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bắt ky lợi ích nao sau day” tác giả nhận thay chủ thé của tội đưa hối lộ được pháp luật hình sự Việt Nam quy định giống như các tội phạm khác, không yêu cầu người phạm tội phải đáp ứng thêm điều kiệt đặc biệt về nhân thân như tội nhận hói lộ. Do đó, có thể kết luận bat kì chủ thé nào có day đủ các đặc điểm cơ bản của chủ thé của tội phạm đều có thé là chủ thể của tội đưa hồi lộ. Về của hối lộ Của hối lộ được xem lả các loại lợi ích mà người đưa hối lộ đưa cho người nhận hồi lộ trong tội phạm đưa hồi lộ.
Của hồi lộ hiện nay được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 bao gồm: tiền, tải sản, lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất. “Lợi ích phi vật chất" là “của hối 16” được bổ sung vào Bộ luật hình sự năm 2015 khi trong thời gian Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 còn hiệu lực thi hành loại chủ thể nhận của hối lộ này chưa được quy định và không phù hợp với tỉnh hình thực tế. Cụ thể, sau hơn 13 năm tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống tham những (UNCAC), các nha lập pháp Việt Nam đã ghi nhận các nội dung về các lợi ích được xem là các “lợi ích phi vật chất" do Công ước quy định như saul: - Tink duc: Tinh dục là một trong các giá trị lợi ích mang tinh phi tài san, Day là loại lợi ích đang được rất nhiều các mi quan hệ xã hội trao đôi với nhau đặc biệt là đối với tội đưa hối lộ. Loại lợi ich nảy rất khó để chứng minh; không như lợi ích về vật chất, để chứng minh được hành vi phạm tội hối lộ tình dục thì phải cần chứng minh được có sự thỏa thuận giữa người đưa và người nhận hối lộ tình dục.
- Thông tin: Người đưa héi lộ có thé đưa hoặc đề nghị cung cấp các thông tin quan trọng đối với người nhận hối lộ. Các thông tin này có thể là các thông tin liên 1 Khoản 4 Điều 3 Nghị quyết số 03/2020/NQ-IHIĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phản Tòa én nhân dân Tôi cao về Hưởng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng vả tội phạm khác vẻ chức vy, quan đến các vấn dé đời tư, các vấn dé về nghề nghiệp, bí mật thương mại hoặc các thông tin không được công bé rộng rãi. - Thành tích: Day là loại lợi ích đặc biệt khác hẳn với các lợi ích đã nêu. Thành tích ở đây là sự thăng tiến của cấp trên đối với cấp dưới trong cùng một hệ thống để có phải đạt được mục đích của mình.
Do đó, để lợi ích về thành tích trở thành của hối lộ trong tội phạm đưa hối lộ thì chủ thẻ đưa hối lộ nay còn phải thỏa mãn thêm một dấu hiệu đó 1a “phai là người có chức vụ, quyền hạn cao hơn chức vụ và quyền hạn của người nhận hồi lộ. Các trường hợp hdi lộ thành tích thường xảy ra khi người cấp trên có ý định muốn lấy thanh tích của cấp dưới thành của của mình nhằm thăng tiễn hơn trong sự nghiệp. Về hành vi trong mô ta tội phạm của tội đưa hối lộ Bộ luật hình sự năm 2015 miêu tả hanh vi đưa hối lộ là hành vi “trực tiếp hoặc qua trung gian hay sẽ đưa hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tỉnh thần nảo đó để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hỗi lộ. Như vậy xét về phương thức đưa hối lộ có thể thấy người đưa hối lộ có thé thực hiện các hành vi như trực tiếp hoặc gián tiếp đưa hối.
Đôi với với các trường hợp người đưa hồi lộ có thé tiếp cận tới người đưa hồi lộ. người đưa hồi lộ sẽ trực tiếp đưa hối lộ bằng các lợi ích như tiền, tài sản hay các lợi ích phi vật chất. Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều trường hợp với nhiều lý do khách quan khác nhau mà người đưa hồi lộ không có cơ hội dé có thể gặp gỡ trực tiếp đẻ có thể đưa hối lộ, khi đó người đưa hỗi lộ sẽ lựa chọn cách đưa hối lộ qua một bên trung gian khác hay còn được hiểu là hối lộ gián tiếp. Ngoài ra, nếu nhìn nhận hành vi của tội đưa hói lộ về phương diện thời điểm đưa hối lộ có thẻ thấy hành vi này được thé hiện với hai trường hợp sau: - Dua hỗi lộ trước khi người nhận hối lộ làm hoặc không làm một việc nào đó vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ; - Đưa hồi lộ sau khi người nhận hối lộ làm hoặc không làm một việc nào đó vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Trong cá hai hành vi này, chủ thé đưa hối lộ đều phải thỏa thuận trước với người nhận hối lộ về thời điểm mà người đưa hối lộ đưa của hồi lộ. Người đưa hối lộ có thẻ lựa chọn thỏa thuận một trong hai thời điểm sau để có thể đưa hồi lộ nhằm § đảm bảo cho lợi ích hay yêu cầu mả mình mong muốn nhận lại với một kết quả thuận lợi nhất. Thỏa thuận nay có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác như như bằng lời nói, văn bản hoặc các hành vi ngầm khác mà các bên cùng hiểu. Đối với hai trường hợp này, việc chấp nhận các thỏa thuận của nhau không ké thời điểm là trước hay sau khi người nhận hếi lộ làm hoặc không làm một việc nảo đó vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì người đưa hối lộ khi này đã được xem lả thỏa mãn hanh vi của tội đưa hối lộ.
Về chủ thể nhận của hấi lộ Theo quy định tại Điều 364 Bộ luật hình sự năm 2015 thì chủ thé nhận “của hối lộ" từ người đưa hối lộ phải là “người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác”. Đây là được xem như một chủ thể đặc biệt khi pháp luật hình sự Việt Nam đòi hỏi cần phải xem xét thêm về đặc điểm nhân thân thì mới phù hợp với mô tả của cấu thành của tội phạm. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 352 Bộ luật hình sự Việt Nam thì “người có chức vụ là người do bố nhiệm, do bau cit, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giaa thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vu.” Ngoài ra “người có chức vụ, quyển han” còn được pháp luật Việt Nam mô tả chỉ tiết hơn tại Khoản 2 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, cụ thể như sau: “2.