Phân tích chi tiết thủ pháp hòa âm trong các tác phẩm giao hưởng Việt Nam sau năm 1975

Luận án tiến sĩ phân tích thủ pháp hòa âm trong tác phẩm giao hưởng Việt Nam sau 1975, làm rõ đặc điểm và sự phát triển âm nhạc thời kỳ này.

Chuyên ngành

Âm nhạc học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
174
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HÒA ÂM VÀ KHÁI QUÁT VỀ TÁC PHẨM GIAO HƯỞNG VIỆT NAM SAU 1975

1.1. Một số khái niệm về thuật ngữ chuyên ngành dùng trong luận án

1.2. Thang âm - Điệu thức

1.3. Hệ thống tài liệu nghiên cứu

1.4. Đánh giá tình hình nghiên cứu

1.5. Khái quát về tác phẩm giao hưởng Việt Nam sáng tác sau 1975

1.5.1. Sơ lược lịch sử phát triển của thể loại giao hưởng

1.5.2. Nội dung - đề tài

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG THỦ PHÁP HÒA ÂM PHƯƠNG TÂY

2.1. Hòa âm cổ điển (L'harmonie classique)

2.2. Hòa âm hiện đại (L'harmonie moderne)

2.3. Vận dụng thủ pháp hòa âm cổ điển

2.4. Các vòng hòa âm kết (cadence)

2.5. Thủ pháp ly điệu và chuyển điệu

2.6. Bè trì tục

2.7. Vận dụng thủ pháp hòa âm hiện đại

2.8. Các dạng hợp âm - chồng âm

2.9. Một số thủ pháp hòa âm

3. CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI THỦ PHÁP HÒA ÂM NHẰM PHÙ HỢP VỚI NGÔN NGỮ ÂM NHẠC VIỆT NAM

3.1. Vận dụng điệu thức năm âm

3.2. Xây dựng chủ đề ở điệu thức năm âm

3.3. Những biến đổi của một số thủ pháp hòa âm

3.3.1. Thủ pháp tăng quãng và chồng quãng 4, quãng 5

3.3.2. Các dạng hợp âm - chồng âm kết

3.3.3. Bè trì tục

3.3.4. Hòa âm được hình thành từ các tuyến giai điệu theo kiểu phức điệu

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Thủ pháp hòa âm trong giao hưởng Việt Nam sau 1975

Luận án tiến sĩ của Vũ Tú Cầu tập trung phân tích thủ pháp hòa âm trong các tác phẩm giao hưởng Việt Nam sáng tác sau năm 1975. Nghiên cứu này nhằm khám phá cách các nhạc sĩ Việt Nam kế thừa và biến đổi các kỹ thuật hòa âm phương Tây để phù hợp với ngôn ngữ âm nhạc dân tộc. Thủ pháp hòa âm được xem là yếu tố quan trọng trong việc tạo nên bản sắc riêng cho âm nhạc giao hưởng Việt Nam.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của hòa âm

Hòa âm là phương tiện biểu hiện quan trọng trong âm nhạc, giúp diễn tả nội dung tác phẩm. Nó bao gồm các hợp âm, điệu tính, và mối liên hệ giữa chúng. Trong giao hưởng Việt Nam, hòa âm không chỉ kế thừa từ phương Tây mà còn được biến đổi để phù hợp với âm hưởng dân tộc. Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm sau 1975, khi các nhạc sĩ tìm cách kết hợp kỹ thuật hòa âm hiện đại với truyền thống âm nhạc Việt.

1.2. Sự phát triển của giao hưởng Việt Nam sau 1975

Sau năm 1975, giao hưởng Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với sự xuất hiện của nhiều dàn nhạc giao hưởng như Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam và Nhà hát Hợp xướng Nhạc Vũ kịch Việt Nam. Các tác phẩm giao hưởng giai đoạn này vừa tiếp nối truyền thống, vừa thể hiện sự sáng tạo trong việc sử dụng thủ pháp hòa âm. Điều này góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú trong âm nhạc hiện đại Việt Nam.

II. Vận dụng thủ pháp hòa âm phương Tây

Luận án phân tích cách các nhạc sĩ Việt Nam vận dụng thủ pháp hòa âm từ truyền thống phương Tây, bao gồm cả hòa âm cổ điểnhòa âm hiện đại. Các kỹ thuật như vòng hòa âm kết, ly điệu, và chuyển điệu được sử dụng linh hoạt trong các tác phẩm giao hưởng. Điều này không chỉ thể hiện sự am hiểu sâu sắc về kỹ thuật hòa âm mà còn cho thấy khả năng sáng tạo của các nhạc sĩ trong việc kết hợp với âm nhạc dân tộc.

2.1. Hòa âm cổ điển trong giao hưởng Việt Nam

Các nhạc sĩ Việt Nam đã vận dụng hòa âm cổ điển phương Tây, đặc biệt là các vòng hòa âm kết và bè trì tục, để tạo nên cấu trúc hòa âm vững chắc cho tác phẩm. Tuy nhiên, họ cũng biến đổi các kỹ thuật này để phù hợp với điệu thức năm âm truyền thống của Việt Nam. Điều này tạo nên sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại trong giao hưởng Việt Nam.

2.2. Hòa âm hiện đại và sự sáng tạo

Hòa âm hiện đại được các nhạc sĩ Việt Nam sử dụng với nhiều biến thể, bao gồm các dạng hợp âm chồng và thủ pháp tăng quãng. Những kỹ thuật này không chỉ mang tính chất hiện đại mà còn được điều chỉnh để phù hợp với ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam. Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm của các nhạc sĩ như Nguyễn Văn Thương và Đàm Linh.

III. Biến đổi thủ pháp hòa âm phù hợp với âm nhạc Việt Nam

Một trong những đóng góp quan trọng của luận án là việc phân tích cách các nhạc sĩ Việt Nam biến đổi thủ pháp hòa âm để phù hợp với âm nhạc dân tộc. Các kỹ thuật như tăng quãng, chồng quãng 4 và quãng 5 được sử dụng để tạo nên bản sắc riêng cho giao hưởng Việt Nam. Điều này không chỉ làm phong phú ngôn ngữ âm nhạc mà còn góp phần vào sự phát triển của âm nhạc hiện đại Việt Nam.

3.1. Điệu thức năm âm và hòa âm

Các nhạc sĩ Việt Nam đã vận dụng điệu thức năm âm truyền thống để xây dựng chủ đề và cấu trúc hòa âm. Điều này tạo nên sự khác biệt so với hòa âm phương Tây, đồng thời thể hiện rõ bản sắc dân tộc trong các tác phẩm giao hưởng. Các biến đổi trong thủ pháp hòa âm như tăng quãng và chồng quãng 4, quãng 5 được sử dụng linh hoạt để phù hợp với âm nhạc Việt Nam.

3.2. Phức điệu và hòa âm

Phức điệu là một trong những yếu tố quan trọng trong việc hình thành hòa âm trong giao hưởng Việt Nam. Các nhạc sĩ đã sử dụng các tuyến giai điệu phức điệu để tạo nên cấu trúc hòa âm độc đáo. Điều này không chỉ làm phong phú ngôn ngữ âm nhạc mà còn góp phần vào sự phát triển của nghệ thuật giao hưởng Việt Nam.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Ngôn ngữ hòa âm và sự phân chia hệ thống ngôn ngữ hòa âm. Chương2: Điệu thức và vai trò của điệu thức trong việc hình thành ngôn ngữ hòa âm. Chương 3: Cấu trúc của ngôn ngữ hòa âm Chương 4: Mối quan hệ giữa hòa âm và cấu trúc tác phẩm Chương 5: Những tiền đề về lý luận trong việc vận dụng ngôn ngữ hòa âm ở tác phẩm Việt Nam Trong bốn chương đầu của bản luận án, Đào Trọng Minh nghiên cứu về các nguyên lý chung của ngôn ngữ hòa âm với các dẫn chứng lấy từ các tác phẩm âm nhạc phương Tây ở các giai đoạn, các trường phái khác nhau. Từ phần 3 của chương 5 tác giả đề cập đến: Vấn đề vận dụng ngôn ngữ hòa âm trong tác phẩm âm nhạc Việt Nam.

Tác giả luận án đã không phân tích sâu vào các thủ pháp hòa âm mà đưa ra các nguyên lý có tính chất khái quát về vấn đề vận dụng ngôn ngữ hòa âm của các nhạc sĩ Việt Nam. Khi trình bày về sự kế thừa những cơ sở lý luận về âm học của âm nhạc phương Tây, tác giả luận án cho rằng: Đó là nguyên tắc kết cấu hợp âm chồng quãng ba, nguyên tắc tiến hành bè bình ổn, nguyên tắc âm học của bè trầm với vòng chức năng cơ bản…Tất cả các nguyên tắc này bất cứ một phong cách âm nhạc nào cũng đều phải sử dụng. Ở đây điều cần thiết là sự thêm hoặc bớt một vài chi tiết cho hợp lý và uyển chuyển đối với từng cá tính của giai điệu và chủ đề.[96/tr187] 19 Chúng tôi cho rằng nhận định trên của tác giả luận văn không hoàn toàn có thể áp dụng vào phần lớn các trường phái âm nhạc ở thế kỷ XX, ví dụ như Âm nhạc 12 âm (Dodecaphonisme) hay Âm nhạc Tiền phong (Avant - gardisme)… cũng như một số các tác phẩm của các nhạc sĩ Việt Nam. Tác giả luận án có đoạn viết: Chúng ta thấy rằng nguyên tắc cấu tạo hợp âm chồng quãng ba không chỉ đơn thuần là nền tảng hợp âm của điệu thức diatonic 7 âm mà nó vẫn có thể áp dụng vào các bậc điệu thức 5 âm có và không có bán âm.

Điều thiết yếu ở đây là không nhất thiết phải câu nệ vào quy luật nhắc nốt (3 hoặc 5) và quy luật tiến hành bè trầm như hòa âm cổ điển mà phải căn cứ vào đường nét, âm hưởng của bè giai điệu để tiến hành nối tiếp hòa âm.[96/tr189] Tác giả luận án cho rằng, các nhạc sĩ Việt Nam khi dùng hòa âm cổ điển với những hợp âm chồng quãng 3, cùng bước nhẩy quãng 4 và quãng 5 ở bè trầm…mà vẫn đậm đà mầu sắc và âm hưởng dân tộc. Bởi vì các nhạc sĩ đã dựa trên cơ sở các yếu tố đặc thù của từng vùng dân ca trong cấu trúc giai điệu để tạo nên ngôn ngữ hòa âm cho phù hợp.[96/tr191] Chúng tôi cho rằng đây là những nhận xét đúng đắn xuất phát từ thực tế khi phân tích một số tác phẩm khí nhạc Việt Nam của tác giả Đào Trọng Minh. Tìm hiểu ngôn ngữ hòa âm qua một vài tác phẩm khí nhạc tiêu biểu của nhà soạn nhạc Đàm Linh là đề tài luận văn cao học của Nguyên Vũ bảo vệ năm 1999. Tác giả Nguyên Vũ nhận xét: Điểm qua những chồng âm, hợp âm xuất hiện trong tác phẩm của nhạc sĩ Đàm Linh chúng tôi thấy có những dạng sau: Hợp âm sắp xếp theo quãng 3 ( hợp âm 3, hợp âm7, hợp âm 9) Chồng âm sắp xếp theo quãng 4 (4 đúng hoặc 4 tăng) Chồng âm trong đó nổi lên vai trò của quãng 2, quãng 7 (2T, 2t,7T,7t) Chồng âm trong đó bao gồm toàn bộ chuỗi 12 âm cromatic.[104/tr95] Tác giả nhận định chung về các hợp âm , chồng âm trong tác phẩm như sau: Các chồng âm mà nhạc sĩ Đàm Linh dùng hầu hết có xu hướng nghịch.

20 Vì vậy hòa âm của tác giả mang lại cho người nghe cảm giác gồ ghề, không bằng phẳng.[104/tr96] Khi nói về các thủ pháp ly điệu và chuyển điệu tác giả tổng kết: Ly điệu mà ông thường dùng là ly điệu có dùng át phụ và ly điệu bằng giai điệu. Thủ pháp chuyển điệu thường dùng là chuyển điệu bằng giai điệu.[104/tr98] Luận văn của Nguyễn Mỹ Hạnh lại tìm hiểu hòa âm ở một hướng khác đó là: Tìm hiểu sự liên kết giữa hòa âm và phức điệu trong một số tác phẩm khí nhạc bảo vệ năm 2000. Theo tác giả thì sự kết hợp giữa hòa âm và phức điệu là xu thế phát triển chung của âm nhạc hiện đại châu Âu. Còn đối với một số nước có nền âm nhạc dân gian phong phú, thì mối quan hệ gắn bó, bổ sung lẫn nhau giữa chiều ngang và chiều dọc trong âm nhạc nhiều bè còn là điều tất nhiên.[88/tr5] Theo tác giả luận văn, sự liên kết giữa hòa âm và phức điệu được thể hiện ở các phương thức sau: Đối âm hai bè trên cơ sở phần đệm hòa âm Tăng cường quãng và hợp âm vào giai điệu Phức tạp hóa các bè hòa âm bằng các âm ngoài hợp âm Phức tạp hóa tiết tấu các bè ( đa tiết tấu) Mở rộng cấu trúc hợp âm Dùng đa điệu tính, đa hòa âm [88/tr69-88] Trong luận văn này, các phương thức đưa ra như trên được dùng để lý giải không những cho các tác phẩm âm nhạc phương Tây, mà còn dùng cho các tác phẩm của Việt Nam.

Tác giả luận văn đã dẫn chứng mối liên kết này bằng các ví dụ cụ thể trong một số tác phẩm khí nhạc Việt Nam. Bản luận văn của Phạm Nghiêm Việt Anh lấy đề tài là: Hòa thanh- phức điệu trong tác phẩm khí nhạc của nhạc sĩ Ca Lê Thuần bảo vệ năm 2007. Trong phần nghiên cứu về cấu trúc chồng âm- hợp âm tác giả luận văn đã đưa ra một số dạng cấu trúc hay gặp trong các tác phẩm của nhạc sĩ Ca Lê Thuần, đó là: 21 Sử dụng những chồng âm quãng 3 theo kiểu hợp âm ba, hợp âm bảy gồm các hợp âm 3 trưởng,3 thứ, 3 tăng, ba giảm và 7 trưởng, 7 thứ. Các chồng âm theo quãng 2.

quãng 4 đúng và quãng 5 đúng cũng được dùng khá phổ biến. Ngoài ra, trong các tác phẩm của mình, nhạc sĩ Ca Lê Thuần đã khai thác cách sắp xếp và cách trình bày hòa âm trên thang 4 hoặc 5 âm Việt Nam theo hòa âm cột dọc.[87/tr59] Khi nhận xét về thủ pháp chuyển điệu, tác giả luận văn viết: Nhạc sĩ vẫn sử dụng một số hình thức chuyển điệu thường gặp như: chuyển điệu công năng, chuyển điệu đẳng âm, chuyển điệu bằng giai điệu, nhẩy điệu. Trong đó thủ pháp chuyển điệu hay dùng là nhảy điệu và chuyển điệu bằng giai điệu.[87/tr60] Luận văn của Nguyễn thị Phương Mai bảo vệ năm 2011 có đề tài: Đặc điểm hòa âm trong một số tác phẩm khí nhạc của nhạc sĩ Phạm Minh Khang. Tác giả luận văn có nhận xét: Hợp âm chồng theo quãng 3 tuy ít sử dụng nhưng cũng được nhạc sĩ ứng dụng trong một số tác phẩm giai đoạn đầu.

Kết cấu chồng âm theo quãng 4 được nhạc sĩ ưa dùng hơn với sự sắp xếp linh hoạt ở cả thể gốc và các thể đảo tạo sự phong phú cho hiệu quả hòa âm. Có thể chia các hợp âm quãng 4 thành hai loại: hợp âm quãng 4 có cấu trúc gồm các quãng 4 đúng thuần khiết và hợp âm quãng 4 là sự kết hợp của các quãng 4 khác loại. [95/tr35] Khi nhận xét về các thủ pháp chuyển điệu, tác giả luận văn có viết: Trong chuyển điệu công năng, nhạc sĩ chủ yếu chuyển qua các điệu tính có quan hệ quãng 4 quãng 5. Bên cạnh đó ông còn sử dụng lối chuyển điệu giai điệu đến các điệu tính có mối quan hệ cả gần và xa.[95/tr78] B- Các công trình khác có đề cập đến hòa âm Công trình Âm nhạc mới Việt Nam tiến trình và thành tựu (2000) của nhóm tác giả: Nguyễn Thị Nhung, Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên do Tú Ngọc làm chủ biên.

Đây là một công trình khoa học đầu tiên mang tính hệ thống đánh giá quá trình hình thành và phát triển của nền âm nhạc mới Việt Nam gần một thế kỷ, từ những năm 30 đến hết thế kỷ XX. 22 Trong công trình này các tác giả đã phân chia thành các giai đoạn phát triển của nền âm nhạc mới Việt Nam. Phần thứ nhất: Sự hình thành âm nhạc mới ( Đầu thế kỷ XX đến 1945) Phần thứ hai: Những bước trưởng thành ( 1945 - 1975) Phần thứ ba: Chặng đường mới ( 1975 - 2000) Trong mỗi phần của công trình, các tác giả đã tổng kết các thành tựu từ lĩnh vực sáng tác cho thanh nhạc đến các sáng tác cho khí nhạc. Mặc dù công trình này không đi sâu vào các đặc điểm âm nhạc của các tác phẩm như : hòa âm, phức điệu, phối khí…nhưng khi giới thiệu một số tác phẩm khí nhạc tiêu biểu, các tác giả đã có một số nhận xét về thủ pháp hòa âm.

Ví dụ khi nhận xét về tổ khúc giao hưởng Non sông một dải của Nguyễn Xinh các tác giả đã viết: Ở tác phẩm này ông đã ứng dụng công trình nghiên cứu của mình về "Điệu thức âm nhạc Việt Nam", trong đó nhạc sĩ đã phát hiện ra quãng 4 đồng vị. Những quãng 4 đó là hạt nhân cho hệ thống hòa thanh phong phú của tác phẩm. [49/tr556] Khi nhìn nhận về đặc trưng âm nhạc của các tác phẩm khí nhạc giai đoạn 1955 -1975, công trình có viết: Các tác giả Việt Nam còn áp dụng lối hòa âm của châu Âu nhưng vẫn quan tâm đến quãng đặc trưng trong khi vận dụng giai điệu kiểu ngũ cung. Các tác giả công trình còn nhận xét: Trong tác phẩm " Bài ca không lời" của Hoàng Dương viết cho piano độc tấu, tác giả vẫn tôn trọng lối tiến hành hòa âm kiểu châu Âu, nhưng có những chỗ các hợp âm D7 và D đều sử dụng thiếu âm nhằm tạo dáng dấp của điệu thức năm âm.[49/tr572] Khi nhận định về đặc điểm âm nhạc của các tác phẩm khí nhạc sáng tác ở giai đoạn từ 1975 -2000, các tác giả công trình có viết: Ở giai đoạn này, việc sử dụng hòa âm, phức điệu của phương Tây tự do hơn…Lối cấu trúc hợp âm theo quãng ba gần như rất ít gặp, thường các hợp âm có cấu trúc theo lối chồng quãng bốn hoặc có cấu trúc gồm các âm của điệu thức 5 âm hợp thành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Phân tích thủ pháp hòa âm trong giao hưởng Việt Nam sau 1975" là một nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật hòa âm trong các tác phẩm giao hưởng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975. Tài liệu này không chỉ làm rõ các đặc điểm hòa âm độc đáo mà còn phân tích sự phát triển và ảnh hưởng của chúng trong nền âm nhạc hiện đại. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên âm nhạc, giúp họ hiểu sâu hơn về sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong âm nhạc giao hưởng Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về hòa âm và các kỹ thuật âm nhạc khác, bạn có thể tham khảo Luận án bổ sung một số đặc điểm hòa âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về sự phát triển của hòa âm trong thế kỷ XX. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ hình thức ba đoạn phức trong các tác phẩm khí nhạc Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cấu trúc âm nhạc, một yếu tố quan trọng trong sáng tác và biểu diễn. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ âm nhạc học kèn đồng trong hòa tấu thính phòng và giao hưởng tại Thành phố Hồ Chí Minh mang đến góc nhìn mới về vai trò của nhạc cụ trong hòa tấu giao hưởng.

Mỗi tài liệu trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về thế giới âm nhạc học, từ hòa âm đến cấu trúc và biểu diễn. Hãy nhấp vào các liên kết để mở rộng kiến thức của mình!