Chương 1: Ngôn ngữ hòa âm và sự phân chia hệ thống ngôn ngữ hòa âm. Chương2: Điệu thức và vai trò của điệu thức trong việc hình thành ngôn ngữ hòa âm. Chương 3: Cấu trúc của ngôn ngữ hòa âm Chương 4: Mối quan hệ giữa hòa âm và cấu trúc tác phẩm Chương 5: Những tiền đề về lý luận trong việc vận dụng ngôn ngữ hòa âm ở tác phẩm Việt Nam Trong bốn chương đầu của bản luận án, Đào Trọng Minh nghiên cứu về các nguyên lý chung của ngôn ngữ hòa âm với các dẫn chứng lấy từ các tác phẩm âm nhạc phương Tây ở các giai đoạn, các trường phái khác nhau. Từ phần 3 của chương 5 tác giả đề cập đến: Vấn đề vận dụng ngôn ngữ hòa âm trong tác phẩm âm nhạc Việt Nam.
Tác giả luận án đã không phân tích sâu vào các thủ pháp hòa âm mà đưa ra các nguyên lý có tính chất khái quát về vấn đề vận dụng ngôn ngữ hòa âm của các nhạc sĩ Việt Nam. Khi trình bày về sự kế thừa những cơ sở lý luận về âm học của âm nhạc phương Tây, tác giả luận án cho rằng: Đó là nguyên tắc kết cấu hợp âm chồng quãng ba, nguyên tắc tiến hành bè bình ổn, nguyên tắc âm học của bè trầm với vòng chức năng cơ bản…Tất cả các nguyên tắc này bất cứ một phong cách âm nhạc nào cũng đều phải sử dụng. Ở đây điều cần thiết là sự thêm hoặc bớt một vài chi tiết cho hợp lý và uyển chuyển đối với từng cá tính của giai điệu và chủ đề.[96/tr187] 19 Chúng tôi cho rằng nhận định trên của tác giả luận văn không hoàn toàn có thể áp dụng vào phần lớn các trường phái âm nhạc ở thế kỷ XX, ví dụ như Âm nhạc 12 âm (Dodecaphonisme) hay Âm nhạc Tiền phong (Avant - gardisme)… cũng như một số các tác phẩm của các nhạc sĩ Việt Nam. Tác giả luận án có đoạn viết: Chúng ta thấy rằng nguyên tắc cấu tạo hợp âm chồng quãng ba không chỉ đơn thuần là nền tảng hợp âm của điệu thức diatonic 7 âm mà nó vẫn có thể áp dụng vào các bậc điệu thức 5 âm có và không có bán âm.
Điều thiết yếu ở đây là không nhất thiết phải câu nệ vào quy luật nhắc nốt (3 hoặc 5) và quy luật tiến hành bè trầm như hòa âm cổ điển mà phải căn cứ vào đường nét, âm hưởng của bè giai điệu để tiến hành nối tiếp hòa âm.[96/tr189] Tác giả luận án cho rằng, các nhạc sĩ Việt Nam khi dùng hòa âm cổ điển với những hợp âm chồng quãng 3, cùng bước nhẩy quãng 4 và quãng 5 ở bè trầm…mà vẫn đậm đà mầu sắc và âm hưởng dân tộc. Bởi vì các nhạc sĩ đã dựa trên cơ sở các yếu tố đặc thù của từng vùng dân ca trong cấu trúc giai điệu để tạo nên ngôn ngữ hòa âm cho phù hợp.[96/tr191] Chúng tôi cho rằng đây là những nhận xét đúng đắn xuất phát từ thực tế khi phân tích một số tác phẩm khí nhạc Việt Nam của tác giả Đào Trọng Minh. Tìm hiểu ngôn ngữ hòa âm qua một vài tác phẩm khí nhạc tiêu biểu của nhà soạn nhạc Đàm Linh là đề tài luận văn cao học của Nguyên Vũ bảo vệ năm 1999. Tác giả Nguyên Vũ nhận xét: Điểm qua những chồng âm, hợp âm xuất hiện trong tác phẩm của nhạc sĩ Đàm Linh chúng tôi thấy có những dạng sau: Hợp âm sắp xếp theo quãng 3 ( hợp âm 3, hợp âm7, hợp âm 9) Chồng âm sắp xếp theo quãng 4 (4 đúng hoặc 4 tăng) Chồng âm trong đó nổi lên vai trò của quãng 2, quãng 7 (2T, 2t,7T,7t) Chồng âm trong đó bao gồm toàn bộ chuỗi 12 âm cromatic.[104/tr95] Tác giả nhận định chung về các hợp âm , chồng âm trong tác phẩm như sau: Các chồng âm mà nhạc sĩ Đàm Linh dùng hầu hết có xu hướng nghịch.
20 Vì vậy hòa âm của tác giả mang lại cho người nghe cảm giác gồ ghề, không bằng phẳng.[104/tr96] Khi nói về các thủ pháp ly điệu và chuyển điệu tác giả tổng kết: Ly điệu mà ông thường dùng là ly điệu có dùng át phụ và ly điệu bằng giai điệu. Thủ pháp chuyển điệu thường dùng là chuyển điệu bằng giai điệu.[104/tr98] Luận văn của Nguyễn Mỹ Hạnh lại tìm hiểu hòa âm ở một hướng khác đó là: Tìm hiểu sự liên kết giữa hòa âm và phức điệu trong một số tác phẩm khí nhạc bảo vệ năm 2000. Theo tác giả thì sự kết hợp giữa hòa âm và phức điệu là xu thế phát triển chung của âm nhạc hiện đại châu Âu. Còn đối với một số nước có nền âm nhạc dân gian phong phú, thì mối quan hệ gắn bó, bổ sung lẫn nhau giữa chiều ngang và chiều dọc trong âm nhạc nhiều bè còn là điều tất nhiên.[88/tr5] Theo tác giả luận văn, sự liên kết giữa hòa âm và phức điệu được thể hiện ở các phương thức sau: Đối âm hai bè trên cơ sở phần đệm hòa âm Tăng cường quãng và hợp âm vào giai điệu Phức tạp hóa các bè hòa âm bằng các âm ngoài hợp âm Phức tạp hóa tiết tấu các bè ( đa tiết tấu) Mở rộng cấu trúc hợp âm Dùng đa điệu tính, đa hòa âm [88/tr69-88] Trong luận văn này, các phương thức đưa ra như trên được dùng để lý giải không những cho các tác phẩm âm nhạc phương Tây, mà còn dùng cho các tác phẩm của Việt Nam.
Tác giả luận văn đã dẫn chứng mối liên kết này bằng các ví dụ cụ thể trong một số tác phẩm khí nhạc Việt Nam. Bản luận văn của Phạm Nghiêm Việt Anh lấy đề tài là: Hòa thanh- phức điệu trong tác phẩm khí nhạc của nhạc sĩ Ca Lê Thuần bảo vệ năm 2007. Trong phần nghiên cứu về cấu trúc chồng âm- hợp âm tác giả luận văn đã đưa ra một số dạng cấu trúc hay gặp trong các tác phẩm của nhạc sĩ Ca Lê Thuần, đó là: 21 Sử dụng những chồng âm quãng 3 theo kiểu hợp âm ba, hợp âm bảy gồm các hợp âm 3 trưởng,3 thứ, 3 tăng, ba giảm và 7 trưởng, 7 thứ. Các chồng âm theo quãng 2.
quãng 4 đúng và quãng 5 đúng cũng được dùng khá phổ biến. Ngoài ra, trong các tác phẩm của mình, nhạc sĩ Ca Lê Thuần đã khai thác cách sắp xếp và cách trình bày hòa âm trên thang 4 hoặc 5 âm Việt Nam theo hòa âm cột dọc.[87/tr59] Khi nhận xét về thủ pháp chuyển điệu, tác giả luận văn viết: Nhạc sĩ vẫn sử dụng một số hình thức chuyển điệu thường gặp như: chuyển điệu công năng, chuyển điệu đẳng âm, chuyển điệu bằng giai điệu, nhẩy điệu. Trong đó thủ pháp chuyển điệu hay dùng là nhảy điệu và chuyển điệu bằng giai điệu.[87/tr60] Luận văn của Nguyễn thị Phương Mai bảo vệ năm 2011 có đề tài: Đặc điểm hòa âm trong một số tác phẩm khí nhạc của nhạc sĩ Phạm Minh Khang. Tác giả luận văn có nhận xét: Hợp âm chồng theo quãng 3 tuy ít sử dụng nhưng cũng được nhạc sĩ ứng dụng trong một số tác phẩm giai đoạn đầu.
Kết cấu chồng âm theo quãng 4 được nhạc sĩ ưa dùng hơn với sự sắp xếp linh hoạt ở cả thể gốc và các thể đảo tạo sự phong phú cho hiệu quả hòa âm. Có thể chia các hợp âm quãng 4 thành hai loại: hợp âm quãng 4 có cấu trúc gồm các quãng 4 đúng thuần khiết và hợp âm quãng 4 là sự kết hợp của các quãng 4 khác loại. [95/tr35] Khi nhận xét về các thủ pháp chuyển điệu, tác giả luận văn có viết: Trong chuyển điệu công năng, nhạc sĩ chủ yếu chuyển qua các điệu tính có quan hệ quãng 4 quãng 5. Bên cạnh đó ông còn sử dụng lối chuyển điệu giai điệu đến các điệu tính có mối quan hệ cả gần và xa.[95/tr78] B- Các công trình khác có đề cập đến hòa âm Công trình Âm nhạc mới Việt Nam tiến trình và thành tựu (2000) của nhóm tác giả: Nguyễn Thị Nhung, Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên do Tú Ngọc làm chủ biên.
Đây là một công trình khoa học đầu tiên mang tính hệ thống đánh giá quá trình hình thành và phát triển của nền âm nhạc mới Việt Nam gần một thế kỷ, từ những năm 30 đến hết thế kỷ XX. 22 Trong công trình này các tác giả đã phân chia thành các giai đoạn phát triển của nền âm nhạc mới Việt Nam. Phần thứ nhất: Sự hình thành âm nhạc mới ( Đầu thế kỷ XX đến 1945) Phần thứ hai: Những bước trưởng thành ( 1945 - 1975) Phần thứ ba: Chặng đường mới ( 1975 - 2000) Trong mỗi phần của công trình, các tác giả đã tổng kết các thành tựu từ lĩnh vực sáng tác cho thanh nhạc đến các sáng tác cho khí nhạc. Mặc dù công trình này không đi sâu vào các đặc điểm âm nhạc của các tác phẩm như : hòa âm, phức điệu, phối khí…nhưng khi giới thiệu một số tác phẩm khí nhạc tiêu biểu, các tác giả đã có một số nhận xét về thủ pháp hòa âm.
Ví dụ khi nhận xét về tổ khúc giao hưởng Non sông một dải của Nguyễn Xinh các tác giả đã viết: Ở tác phẩm này ông đã ứng dụng công trình nghiên cứu của mình về "Điệu thức âm nhạc Việt Nam", trong đó nhạc sĩ đã phát hiện ra quãng 4 đồng vị. Những quãng 4 đó là hạt nhân cho hệ thống hòa thanh phong phú của tác phẩm. [49/tr556] Khi nhìn nhận về đặc trưng âm nhạc của các tác phẩm khí nhạc giai đoạn 1955 -1975, công trình có viết: Các tác giả Việt Nam còn áp dụng lối hòa âm của châu Âu nhưng vẫn quan tâm đến quãng đặc trưng trong khi vận dụng giai điệu kiểu ngũ cung. Các tác giả công trình còn nhận xét: Trong tác phẩm " Bài ca không lời" của Hoàng Dương viết cho piano độc tấu, tác giả vẫn tôn trọng lối tiến hành hòa âm kiểu châu Âu, nhưng có những chỗ các hợp âm D7 và D đều sử dụng thiếu âm nhằm tạo dáng dấp của điệu thức năm âm.[49/tr572] Khi nhận định về đặc điểm âm nhạc của các tác phẩm khí nhạc sáng tác ở giai đoạn từ 1975 -2000, các tác giả công trình có viết: Ở giai đoạn này, việc sử dụng hòa âm, phức điệu của phương Tây tự do hơn…Lối cấu trúc hợp âm theo quãng ba gần như rất ít gặp, thường các hợp âm có cấu trúc theo lối chồng quãng bốn hoặc có cấu trúc gồm các âm của điệu thức 5 âm hợp thành.