CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN XÁC ĐỊNH, PHÂN TÍCH THÔNG SỐ CỦA ĐẤT NHẰM ĐÁNH GIÁ TÍNH ỔN ĐỊNH HỐ ĐÀO 1. Khái niệm và đặc điểm của công trình hố đào Trong khu vực đô thị tập trung đông dân cư, mật độ công trình cao, việc tận dụng không gian bên dưới mặt đất để xây dựng các cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ các nhu cầu khác nhau của con người là cần thiết. Sự kết hợp hài hòa giữa các công trình trên mặt đất và các công trình ngầm đảm bảo đầy đủ các tiêu chí: bền vững, an toàn, thân thiện với con người và môi trường cho thấy trình độ phát triển của một đô thị có quy mô lớn và hiện đại. Khái niệm công trình hố đào Theo trình bày của C-Y.
Ou [13], khi Terzaghi (1943) lần đầu tiên xem xét tính ổn định của hố đào, đã định nghĩa: Chiều sâu hố đào nhỏ hơn chiều rộng là hố đào nông, còn khi chiều sâu lớn hơn chiều rộng được gọi là hố đào sâu. Những năm về sau, Terzaghi và Peck (1967), Peck và các cộng sự (1977) đã sửa lại rằng: Chiều sâu nhỏ hơn 6 m được gọi hố đào nông, và lớn hơn 6 m được xem như là hố đào sâu. Tuy nhiên, ngày nay các phần mềm tính toán theo phương pháp PTHH thực hiện được hầu hết các công tác phân tích, thiết kế với bất cứ chiều sâu nào của hố đào theo những lý thuyết giống nhau. Cho nên, việc phân biệt hố đào sâu hay nông là không còn có ý nghĩa nữa.1 cho thấy hố đào sâu điển hình được thi công trong khu đô thị có mật độ xây dựng lớn.
Hố đào có quy mô lớn, với các hạng mục thi công như nền móng của tòa nhà, hệ thống cột trụ, tường vây và sàn tầng hầm. Tầng hầm của tòa nhà được xây dựng theo công nghệ Top – down.1: Hố đào sâu công trình Bitexco Financial Tower [1]. Đặc điểm của công trình hố đào Theo tài liệu [14], các đặc điểm của công trình hố đào được khái quát như sau: - Công trình hố đào sâu là loại công trình tạm thời, sự dự trữ về an toàn có thể là tương đối nhỏ nhưng lại có liên quan tới tính địa phương, điều kiện địa chất của mỗi vùng khác nhau thì đặc điểm cũng khác nhau. Công trình hố đào là một khoa học đan xen giữa các khoa học về đất đá, về kết cấu và kỹ thuật thi công; là một loại công trình mà hệ thống chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố phức tạp; - Do hố đào là loại công trình có giá thành cao, khối lượng công việc lớn, kỹ thuật phức tạp, phạm vi ảnh hưởng rộng, nhiều yếu tố biến đổi, sự cố hay xảy ra; - Công trình hố đào đang phát triển theo xu hướng độ sâu lớn, diện tích rộng, quy mô công trình ngày càng tăng lên; - Theo đà phát triển cải tạo các thành phố cũ, các công trình cao tầng, siêu cao tầng chủ yếu tập trung ở những khu đất nhỏ hẹp, mật độ xây dựng lớn, dân cư đông đúc, giao thông chen lấn, điều kiện để thi công hố đào khó khăn.
Lân cận công trình hố đào là các tòa nhà xây dựng vĩnh cửu, các công trình lịch sử, nghệ thuật bắt buộc phải được đảm bảo an toàn, không để đào mái dốc, yêu cầu đối với việc ổn định và khống chế chuyển dịch rất là nghiêm ngặt; 15 - Tính chất đất đá thường biến đổi trong khoảng khá rộng, điều kiện ẩn dấu và phức tạp của địa chất, cũng như không đồng đều của địa chất thủy văn thường làm cho số liệu khảo sát có tính phân tán lớn, khó đại diện cho tình hình tổng thể của các tầng đất, hơn nữa tính chính xác cũng tương đối thấp, tăng thêm khó khăn cho thiết kế và thi công hố đào; - Thi công hố đào trong điều kiện đất yếu, mực nước ngầm cao và các điều kiện hiện trường phức tạp khác rất dễ gây ra trượt lở khối đất, mất ổn định hố đào, đáy hố trồi lên, kết cấu tường chắn bị dò nước nghiêm trọng hoặc bị chảy đất…, làm hư hại hố đào, uy hiếp đến các công trình lân cận; - Công trình hố đào bao gồm nhiều khâu có quan hệ chặt chẽ với nhau như công tác chắn đất, chống giữ, ngăn nước, hạ mực nước ngầm, đào đất… trong đó, nếu một khâu nào đó thất bại sẽ dẫn đến sụp đổ công trình; - Việc thi công hố đào ở các hiện trường lân cận như đóng cọc, hạ mực nước ngầm, đào đất. đều có thể sinh ra những ảnh hưởng hoặc khống chế lẫn nhau, tăng thêm các yếu tố để có thể gây ra sự cố; - Công trình hố đào có giá thành cao nên khi xảy ra sự cố thì xử lý sẽ vô cùng khó khăn, gây ra tổn thất lớn về kinh tế và ảnh hưởng nghiêm trọng về mặt xã hội; - Công trình hố đào có thời gian thi công dài, từ khi đào đất cho đến khi hoàn thành toàn bộ các công trình kín khuất ngầm dưới mặt đất phải trải qua nhiều lần mưa to, nhiều lần chất tải, chấn động, thi công có sai phạm… tính ngẫu nhiên của độ an toàn tương đối lớn, sự cố xảy ra thường là đột biến. Tính ổn định của hố đào Trong khi xây dựng công trình ngầm, các yêu cầu về thiết kế, biện pháp thi công giằng chống và chắn giữ thành hố đào để tránh phá hoại hay sụp đổ, đồng thời đảm bảo tính ổn định khi đào sâu trong đất nhằm loại bỏ ảnh hưởng xấu đến các công trình lân cận là rất quan trọng. Hố đào là một công trình trung gian cho việc thi công móng hoặc xây dựng các loại công trình ngầm khác.
Theo quan điểm cơ học đất, việc thi công hố đào 16 được xem như bài toán dỡ tải đối với đất nền. Sự cân bằng ban đầu bị phá vỡ, trạng thái ứng suất thay đổi, thông số sức bền, độ cứng của đất nền giảm đi làm xuất hiện nguy cơ mất ổn định hố đào. Chuyển vị của vách hố đào và lún của đất nền xung quanh ngày càng lớn. Từ đó dẫn đến việc gây hư hại cho các công trình lân cận hố đào.2: Ảnh hưởng từ việc mất ổn định của hố đào đến công trình lân cận.
Đánh giá tính ổn định hố đào thông qua mô phỏng bằng phương pháp phần tử hữu hạn Việc sử dụng phương pháp PTHH để mô phỏng biến dạng của hố đào sâu đã được trình bày trong rất nhiều tài liệu liên quan đến địa kỹ thuật xây dựng như [2- 9,13,14,15]. Tuy nhiên, các mô phỏng hố đào cho ra kết quả biến dạng tường vách và đất nền xung quanh thường không đúng so với số liệu quan trắc tại hiện trường. Trong tài liệu [9], Pearlman và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu tổng thể các yếu tố cấu thành việc xây dựng hố đào sâu trong khu vực đô thị. Khi so sánh kết quả mô phỏng hố đào bằng phương pháp phần tử biên (PTB) và phương pháp PTHH với số liệu quan trắc hiện trường (Hình 1.3), các tác giả đã nhận xét như sau: “Phương pháp PTB và PTHH rất phù hợp trong việc dự đoán chuyển vị cục bộ của tường chắn.
Trên thực tế thì chuyển vị của tường lại nhỏ hơn kết quả mô phỏng theo cả hai 17 phương pháp. Ứng xử này có thể là kết quả từ sự kết hợp giữa các giá trị có tính dè dặt đối với module biến dạng của đất và sự đánh giá thận trọng tải công trình trong các mô hình”.3: Chuyển vị của tường theo quan trắc, theo dự đoán bằng phương pháp PTB và phương pháp PTHH [9]. Dựa trên nhận xét của các tác giả, ta có thể thấy rằng số liệu module biến dạng được đưa vào để mô phỏng hố đào sâu chưa phải là độ cứng thực tế của đất. Các nghiên cứu xác định module biến dạng của đất loại cát 1) Hiệp hội Địa kỹ thuật Cộng hòa liên bang Đức đã thực hiện một nghiên cứu thử nghiệm để đánh giá độ chính xác của phân tích PTHH đối với các hố đào sâu trong đất cát ở Berlin [3].
Chỉ với các kết quả hạn chế từ thí nghiệm chuẩn trong phòng và các đặc tính vật liệu điển hình của đất cát được cung cấp, mười bảy nghiên cứu từ các trường đại học và các đơn vị tư vấn đã thực hiện phân tích, dự đoán biến dạng hố đào trong đất cát. Các phần mềm phân tích PTHH và mô hình đất khác nhau được sử dụng trong mười bảy nghiên cứu này (Bảng 1.1: Bảng tổng hợp nội dung của mười bảy phân tích PTHH đối với hố đào sâu trong cát ở Berlin, Đức [3] Phân Độ cứng tham chiếu (Gia tải/ dỡ tải) ϕ ψ Rộng x Phần tử Phần tử Mặt tiếp Mô hình đất Độ cứng Ghi chú tích (kPa) (Độ) (Độ) Sâu đất tường xúc Liên tục B1 Đàn - dẻo lý thưởng Phụ thuộc ứng suất z < 20 m: 14900 z > 20 m: 44700 35 5 100 x 64 Bậc 2 Có 9 nút - Đàn – dẻo (z < 40m) z < 40 m: 15000/ 39000 (B2) B2/B2a Đàn – dẻo lý tưởng (z Phụ thuộc ứng suất z < 40 m: 60000/ 180000 (B2a) 36 6 100 x 100 Bậc 2 Dầm Có > 40m) z > 40 m: 253000 (B2), 227000 (B2a) - Phục hồi B3 Tuyến Liên tục Lỗi gán lực B3/B3a Biến dạng giữa các hạt 161 x 162 Có tính 4 nút kích B3a Hằng số, trên 43 lớp z < 2 m: 10500 Tuyến Liên tục B4 Đàn - dẻo lý thưởng 35 0 105 x 107 - tăng theo chiều sâu 102 < z < 107 m: 457000 tính 4 nút - Hằng số, trên 6 lớp z < 5 m: 32600 B5 Đàn - dẻo lý thưởng 35 15 80 x 60 - Dầm Không 18 32 < z < 60 m: 303000 - tăng theo chiều sâu Hằng số, trên 20 lớp z < 20 m: 20000.5 B6 Đàn - dẻo lý thưởng 35 15 122 x 90 - - - Lỗi gán lực tăng theo chiều sâu z > 20 m: 44700.5 kích Lực dính c B7 Đàn - dẻo lý thưởng Hằng số 60000 40.5 90 x 60 Bậc 2 Liên tục Có = 2.