CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KẾT CẤU TƯỜNG VÂY CHU VI TRÒN 1.1 Giới thiệu Ngày nay, rất nhiều công trình với nhiều tầng hầm được xây dựng trong khu vực đô thị. Trong công tác thiết kế, việc đánh giá và kiểm soát chuyển vị của đất nền xung quanh công trình là rất quan trọng. Chuyển vị lớn có thể làm hư hại các công trình lân cận cũng như các công trình hạ tầng kỹ thuật công cộng khác. Nhằm hạn chế tối đa chuyển vị của đất nền xung quanh, tường chắn đất được sử dụng rộng rãi để ngăn đất trong các công trình có hố đào sâu do có nhiều ưu điểm.
Tường chắn đất tổng quan có hai loại chính như sau: Tường liên tục: tường vây, tường đúc sẵn, tường cừ ván thép, tường vữa, tường cọc liên kế,… Tường vây không liên tục: tường Berlinese, tường Parisian, tường Lutitian, tường Moscow,… Hình 1.1 Các loại tường chắn đất không liên tục Nghiên cứu một hố đào sâu người ta cần quan tâm đến hai vấn đề chính đó là: ổn định và biến dạng. Một hố đào sâu ổn định khi tường chắn đất không chuyển vị quá mức cho phép và đáy hố đào không bị đẩy trồi, bùng nền,… gây ảnh hưởng đến các công trình xung quanh. Đảm bảo an toàn cho tất cả công nhân, thiết bị,… đang thi công trong hố đào sâu. -4- C-Dwall thuộc dạng tường liên tục và nó có ba ưu điểm chính so với tường vây truyền thống như sau.
Thứ nhất, nó không cần bất kì hệ chống đỡ nào như là giằng chống, neo đất, hay sàn tầng hầm. Công tác đào tầng hầm có thể được thi công rất nhanh do mặt bằng thi tốt, không có chướng ngại cản trở. Thứ hai, chiều sâu tường ngắn, không cần phải cắm sâu vào đất mà vẫn ổn định dưới tác dụng của đất nền xung quanh. Thứ ba, lực vòng phát sinh trong tường đóng vai trò quan trọng trong việc giảm moment và lực cắt trong tường do đó sẽ giảm hàm lượng thép đến mức tối thiểu.
C-Dwall đã được áp dụng trong rất nhiều loại công trình như công trình nhà cao tầng, bãi đậu xe, giếng thi công trong công trình xe điện ngầm, hồ chứa nước mưa, trạm bơm, các công trình xử lí nước thải,… 1.2 Các nghiên cứu về C-Dwall trên thế giới và Việt Nam 1.1 Các nghiên cứu về C-Dwall trên thế giới Từ thập niên 90 của thế kỉ XX, Donald A. Bruce (1991) [5], công ty Nicholson Construction của Mỹ đã nghiên cứu và ứng dụng thành công C-Dwall vào công trình trạm bơm tại Richmond Avenue ở New York, Mỹ. C-Dwall với chiều dày 0. sâu 27m, đường kính trong 16.
Sự thành công của công trình đã mở ra một giải pháp mới cho các hố đào sâu vào thời đó. Gilbert (2005) [2], đã đưa ra các đề nghị tính toán thiết kế C-Dwall. Trong đó, ứng suất khi có các lỗ mở, các dạng mất ổn định của C-Dwall cũng được xét đến.2 Các nghiên cứu về C-Dwall tại Việt Nam Tại Việt Nam, duy nhất công trình VNPT Hà Nội (năm 2005) sử dụng C-Dwall với đường kính tầng hầm 54m, chiều sâu đào 13m. Công trình được thiết kế bởi công ty Tư Vấn Thiết Kế Xây Dựng – Bộ Xây Dựng (CDC) và được thi công bởi công ty Bachy Soletanche Việt Nam.
Tuy nhiên chưa có một tổng kết, hướng dẫn chi tiết cho công trình sử dụng C-Dwall.3 Các công trình điển hình sử dụng C-Dwall C-Dwall đã được đề xuất và thi công trong các công trình nổi tiếng trên thế giới trong hơn 15 năm qua như là: -5- - Công trình Harlay car park (Pháp, năm 1996), đường kính tầng hầm 33.5m, chiều sâu đào 27m. - Công trình International Financial Centre I (Hồng Kông, năm 1999), và II (năm 1995), đường kính tầng hầm 61.5m, chiều sâu đào 37m. - Công trình Kowloon Station Package 7 (Mega Tower, Hồng Kông, năm 2003), đường kính tầng hầm 76m, chiều sâu đào 25m. - Công trình Wu Han YangLuo Bridge (Trung Quốc, năm 2003), C-Dwall cho trụ neo phía Bắc với đường kính 70m, chiều sâu đào 45m.
- Công trình Lee Tunnel (Vương Quốc Anh, 2012), đường kính tầng hầm 20m, chiều sâu đào 74.5m - … Tại Việt Nam, duy nhất công trình VNPT Hà Nội (năm 2005) sử dụng C-Dwall với đường kính tầng hầm 54m, chiều sâu đào 13m.2 Mặt bằng công trình VNPT Hà Nội -6- 1.4 Tiềm năng ứng dụng C-Dwall tại Việt Nam Các dự án xây dựng hệ thống xe điện ngầm tại các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đòi hỏi phải có các giếng để đẩy và tiếp nhận các máy đào (TBM). Các vị trí thoát hiểm nếu đoạn đường giữa hai trạm xe điện ngầm tương đối xa. Với độ sâu của các tuyến xe điện ngầm ~30m dưới mặt đất tự nhiên thì C-Dwall là một giải pháp tối ưu cho các kết cấu này. Tốc độ đô thị hóa và phát triển dân số ngày càng nhanh, nhu cầu cho các phương tiện đi lại cũng tăng lên đòi hỏi phải có nhiều bãi đậu xe ngầm với sức chứa lớn.
C- Dwall cung cấp một không gian ngầm sâu với nhiều tầng có thể giải quyết tốt vấn đền này. Vấn đề ngập đường mỗi khi mưa lớn tại các thành phố lớn cần được khắc phục triệt để nhằm hạn chế ảnh hưởng của thời tiết đến cuộc sống cũng như sự phát triển đô thị. Việc xây dựng các hệ thống hố chứa nước mưa trong thành phố là một yêu cầu cấp bách. Kết cấu cần phải có dung tích lớn.
Sau đó, hệ thống xử lí sẽ làm sạch và bơm ra các kênh rạch chính giống như công trình. Ngoài ra các trong công trình dân dụng, năng lượng, xử lý chất thải,… C-Dwall cũng là một giải pháp phù hợp. -7- CHƯƠNG 2 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN TƯỜNG VÂY CHU VI TRÒN C-Dwall được thi công bởi nhiều tấm panel hình chữ nhật liên kết với nhau bởi các khớp mềm hoặc các dạng gioăng cản nước liên tục để tạo thành một hình dạng tròn hoàn chỉnh. Với ưu điểm tự ổn định dưới tác dụng của áp lực đất, C-Dwall không cần bất kì hệ thống chống đỡ nào như hệ giằng chống, neo đất, sàn tầng hầm,… trong suốt quá trình thi công đào đất tầng hầm.
Tường ứng xử như là một hình trụ đồng nhất, chống lại áp lực nước và áp lực đất thông qua sự phát triển ứng suất vòng. Ngoài ra, một giá trị nhỏ moment uốn theo phương đứng và lực cắt cũng lớn dần trong tường do sự tăng ứng suất vòng theo chiều sâu. Thêm một thành phần nữa là moment và lực cắt theo phương ngang hình thành do tải phân bố không đều dọc theo thành tường.1 Ứng suất vòng trong C-Dwall Sức kháng vòng của một giếng tròn phụ thuộc vào hai thành phần là chiều dày hữu hiệu tường và ứng suất nén cho phép của bê tông. Ứng suất vòng phụ thuộc trực tiếp vào độ cứng vòng thu được từ chiều dày hữu hiệu và đường kính của giếng.
Các dầm vòng (ring beam) đóng vai trò giống như hệ thanh chống, chịu áp lực ngang có giá trị tùy theo tỉ lệ độ cứng vòng của tường và dầm. -8- Dầm vòng Hình 2.1 Chiều dày hữu hiệu của các tấm panel tường vây Trong thực tế thi công, chu vi tường vây không thể tạo thành một vòng tròn hoàn chỉnh mà là một hình đa giác do các tấm panel riêng lẻ kết hợp lại với nhau. Do đó, người thiết kế cần tính toán lại chiều dày hữu hiệu của tường vây ứng xử như là một đường tròn bằng cách xem xét độ lệch theo phương đứng và độ lệch vị trí (30mm) của các tấm panel trên mặt đất. Độ lệch theo phương đứng thông thường là 1/100 nhưng nếu được kiểm soát tốt hay sử dụng các thiết bị đào hiện đại có thể đạt được 1/200.
Theo giả thuyết trên, chiều dày hữu hiệu của C-Dwall sẽ bị giảm theo chiều sâu tường vây. Thiên về an toàn, chiều dày tường vây tại mặt cắt bất lợi nhất tại chân tường sẽ được sử dụng để kiểm tra khả năng chịu nén của bê tông khi có ứng suất vòng tác dụng.1 bên dưới mô tả cách tính chiều dày hữu hiệu t của tường vây theo chiều dày lý thuyết T và độ lệch do thi công là d. -9- t = T-2d Với: t là chiều dày hữu hiệu của C-Dwall T là chiều dày lý thuyết của C-Dwall d là độ lệch theo phương ngang do thi công Hình 2.2 Cách xác định chiều dày hữu hiệu tường vây 2.2 Độ cứng vòng của C-Dwall Độ cứng vòng, hiệu ứng vòng xuyến chống lại chuyển vị hướng tâm là hệ số ảnh hưởng đến sự phân bố áp lực đất/ nước gây ra momen/ lực cắt và lực nén vòng xuyến. Độ cứng vòng càng lớn thì lực nén vòng xuyến càng lớn nhưng moment / lực cắt lên tường sẽ giảm và ngược lại.
Độ cứng vòng tỷ lệ thuận với chiều dày hữu hiệu và module đàn hồi của bê tông, tỷ lệ nghịch với bán kính của hình trụ. Xét một tường tròn (với chiều cao 1.0m, có chiều dày t) chịu một áp lực phân bố đều p xung quanh. Nội lực trong tường chính là lực vòng được tính từ công thức: N = pRext Trong đó, Rext = bán kính ngoài của tường Ứng suất vòng trong tường: N pRext σ= = t t Biến dạng: σ pRext ε= = E Et -10- Với, E = Modulus đàn hồi bê tông của tường Độ co ngắn chu vi tường: Rext + Rint p Δl = 2π ε = 2π Rave Rext 2 Et Với, Rint= bán kính trong của tường; Rave= bán kính trung bình của tường. Độ co ngắn bán kính của tường: Δl p ΔRave = = Rave Rext 2π Et Tỉ số giữa áp lực và độ co ngắn bán kính của tường p Et k= = ΔRave Rave Rext Trong trường hợp chiều dày là nhỏ so với bán kính của tường t<<Rext, Rave~Rext , độ cứng vòng được xác định theo công thức: Et k cyl = t (R + ) 2 2 Trong đó, kcyl=độ cứng vòng; E=Modulus bê tông tường; t=chiều dày; R=Rint=bán kính trong của tường Về mặt thi công, số lượng mối nối giữa các panel cũng là một hệ số ảnh hưởng đến độ cứng vòng bởi vì các mối nối có thể xích lại gần nhau dưới tác dụng của lực nén vòng.
Theo kinh nghiệm, người ta lấy giá trị 2mm cho mỗi mối nối dưới lực nén vòng là 300kN/m2.3 Độ cứng vòng của dầm vòng (ring beam) Cũng giống như hệ thanh giằng truyền thống, dầm vòng có cùng tác dụng nhưng khác hoàn toàn cách truyền lực. Tải trọng được kháng lại bằng lực nén vòng và độ cứng phụ thuộc vào tính đàn hồi của vật liệu.