Đặt vấn đề Đồng bằng Sông Cửu Long là vùng đất có hệ thống sông ngòi và kênh rạch được hình thành nhờ quá trình bồi tụ và lắng đọng trầm tích trẻ có nguồn gốc sông biển, đầm lầy. Đây là vùng không thuận lợi về mặt địa chất công trình, đất nền phổ biến nhất là các lớp đất yếu dày từ 10 - 30m. Đặc điểm chung dễ nhận thấy là sức chịu tải nhỏ và biến dạng lớn đưới tác dụng của tải trọng công trình. Vì vậy, việc xây dựng các công trình trên nền đất yếu là một vấn đề khó khăn và phức tạp cho các nhà kỹ thuật.
Vấn đề là ở chỗ phải so sánh, lựa chọn các giải pháp nền móng cho khả thi. Khi thiết kế những công trình trên nền đất yếu, các nhà tư vấn thường phải chọn giữa các phương án xử lý móng và phương pháp gia cố nền. Phương án xử lý bằng móng cọc thường được lựa chọn cho những công trình có qui mô lớn, phức tạp. Tuy nhiên, việc lựa chọn đó mang tính chủ quan, chưa có sự so sánh hợp lý về các phương án khả di.
Nhiều giải pháp xử lý - gia cỗ nền đất yếu đã được áp dụng, song chưa đánh giá đúng bản chất của đất yếu trong công tác khảo sát — thiết kế cũng như thi công nên tính ổn định của công trình được xác định còn có sự khác biệt rõ rệt giữa tính toán theo lý thuyết và thực tế, dẫn đến hiện tượng một số công trình thủy lợi, đê bao,. bị hư hỏng trong quá trình thi công hoặc sử dụng. Mặt khác, việc phân tích và đánh giá hiệu quả của các giải pháp xử lý - gia cố này cũng chưa được quan tâm đúng mức. Các vẫn đề trên đã được một số tác giả đề cập đến nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu và đánh giá toàn diện.
Do đó, việc nghiên cứu lựa chọn giải pháp kỹ thuật hợp lý cho nền đất yếu ở khu vực này là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách góp phần nâng cao phát triển kinh tế cho toàn vùng. Mục tiêu nghiên cứu Các công trình đập, đê bao khi xây dựng trên những vùng đất yếu này cần phải có giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý — gia có nền nhằm đảm bảo ổn định — giảm khả năng thấm cho công trình, đồng thời sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất xây dựng và các vật liệu địa phương khu vực nghiên cứu. Hiện nay có rất nhiều phương pháp gia cô nền, trong đó phương pháp gia cố bằng cọc đất trộn ximăng là một trong những phương pháp gia cố hiệu quả và dat tiến độ thi công nhanh. Nghiên cứu các đặc điểm tổng quan của đất nền tại khu vực này kết hợp với nghiên cứu các đặc trưng tính chất cơ lý của cọc đất - ximăng sẽ góp phần ứng dụng tính toán giải pháp cọc đất trộn ximăng gia cố ôn định đê bao ngăn lũ.
Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu thí nghiệm trong phòng đề xác định các tinh chat cơ lý cũng như hệ số thấm, sức chống cắt và cường độ chịu nén đơn của hỗn hợp đất trộn ximang. Tu đó, ứng dụng vào công trình đập, đê với loại đất khu vực An Giang. - Thông qua phương pháp giải tích và phần tử hữu hạn, tác giả nghiên cứu tính toán ổn định đê bao ngăn lũ của đập Trà Sư được gia cỗ bằng cọc đất trộn ximăng. Giới hạn của đề tài - Chỉ nghiên cứu đất ở khu vực tỉnh An Giang.
- Chỉ nghiên cứu trộn một độ âm hỗn hợp đất - xi măng mà chưa xét đến sự thay đổi của nhiều độ âm khác nhau. - Chưa xem xét sự tương quan giữa cường độ, hệ số thấm trong phòng và hiện trường. ---CHUONG 1--- TONG QUAN VE DAC DIEM ĐỊA CHÁT KHU VỰC ĐBSCL & CAC GIAI PHAP XU LY, GIA CO NEN DAT YEU TONG QUAN DAC DIEM DJA CHAT KHU VUC PBSCL 1.1 TONG QUAT VE QUA TRINH HINH THANH PAT YEU O KHU VUC PONG BANG SONG CUU LONG 1.Đất yếu nói chung: 1) Khái niệm về đất yếu: @ Về định tinh: Dat yếu là loại đất không có khả năng tiếp nhận tải trọng công trình nếu không có các biện pháp gia cỗ xử lý thích hợp. @ Về định lượng: Đất có các đặc trưng vật lý : — Trọng lượng riêng tự nhiên y < 1,7 g/cm’ — Hệ số rỗng e > 1,0 - Độâm W >40% — Độ bảo hòa nước G (Sr) > 0,8 Các đặc trưng cơ học: — Module biến đạng tông quát E, < 5000 kN/cm” — Góc ma sát trong ọ < 100 — Lực dính c < 10 kN/cnử.
Ngoài ra có thê dựa vào cường độ nén đơn qụ từ thí nghiệm nén đơn: — Đất rất yếu: qụ < 25 kN/cm” — Đất yếu: qụ < 50 kN/cm” 2) Các dạng đất yếu đồng bằng sông Cửu Long: @ Đất yếu có thể được phân làm ba nhóm chủ yếu như sau: - Các loại đất sét (á sét, sét) ở trạng thái mềm, bão hòa nước thuộc các giai đoạn đầu của quá trình hình thành đá sét. - Các loại cát hạt nhỏ, cát bụi ở trạng thái rời, bão hòa nước -_ Các loại đất bùn, than bùn và đất than bùn Các loại đất yếu trên rất đa dạng về thành phần khoáng vật, nhưng thường giống nhau về tính chất vật lý của đất. @ Đất yếu ĐBSCL có các chỉ tiêu sau : +* Dung trọng tự nhiên : vw = 14,5 + 15,5 KN/mÌ “ Độ âm tự nhiên : wøx 65+ 75 % s* Hệ số rỗng : ez 1,5+2,0 s* Lực dính tiêu chuẩn : cx 5+6KN/m s* Góc nội ma sát : ọ=4z50 s* Module biến dạng: Ey = 500 + 600 KN/m? “ Hé sé tham: k< 107+ 10° cm/s 1. Đặc điểm và tính chất của đất sét yếu: 1) Đặc điểm chung của đất sét yếu: - Đất yếu gây biến dạng rất lớn - Cấu trúc của các hạt đất có liên kết rất yếu nên khả năng chịu tải rất nhỏ; - Dễ xảy ra hiện tượng co nở khi có nước thấm đối với các loại sét có hàm lượng Montmorillonit lớn (ven biển, ven sông).
2) Đặc điểm của đất sét mềm yếu ven sông: Đất sét mềm yếu có tính chất chung của các loại đất đá thuộc loại sét vì nó là sản phẩm ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành đất đá loại sét, nhưng nó cũng có các đặc điểm riêng biệt. a) Ban chất, thành phần và cấu trúc khoáng vật sét: Có hai phần - Hạt thô (hạt > 0,002mm) : là các hạt nhỏ như thạch anh, fenspat. là các khoáng chất có nguồn gốc đá. - Hạt mịn: gồm các hạt rất bé (2z0,lum) và keo (0,1+0,001um).
Chúng là các alumino-silicat phức tạp chứa các lon Mg, AI, K, Ca, Na và Fe. được gọi là khoáng vật sét. Các khoáng vật sét chia thành 3 loai chinh: illite, kaolinite, montmorillonite. Các khoáng vật sét này là dấu hiệu các điều kiện môi trường mà nó thành tạo và làm cho đất sét có đặc tính riêng.
b) Độ bền cấu trúc và lực dính kết cấu trúc: Nếu tải trọng ngoài tác dụng lên đất sét yếu nhỏ hơn trị số độ bền cấu trúc thì biến dạng của đất bé đến mức có thể bỏ qua, còn khi vượt quá độ bền cấu trúc thì đường cong liên hệ giữa hệ số rỗng và áp lực đất có độ dốc lớn. Độ bền cấu trúc của đất sét yếu: 0,2+0,3kg/cnử. Sức chống cắt của đất loại sét là lực dính kết, gồm hai loại: Lực đính kết nguyên sinh và lực dính kết củng cố. Maslov chia làm lực dính kết có nguồn gốc keo nước 3w (dẻo mềm) và lực dính kết cấu trúc C, : Cy = Yw+C,.
c) Tính nén chưa đến chặt: Thông thường nền đất sét yếu ở trạng thái nén chưa đến chặt hoặc được nén chặt bình thường. Tính nén chưa đến chặt của đất là sự không phù hợp giữa độ chặt thiên nhiên với áp lực thiên nhiên mà đất đang chịu tác dụng. Nguyên nhân là do ảnh hưởng sự phát sinh lực dính của các mối liên kết cấu trúc kìm hãm sự nén chặt, cũng như do tác dụng của nước lỗ rỗng, điều kiện thoát nước lỗ rỗng và trị số, tốc độ, thời gian luc tac dụng. Áp lực cỗ kết trước ơ,`: các lớp đất yếu trên mặt thường là dạng cỗ kết trước nhẹ do ảnh hưởng của nhiệt độ, mực nước ngầm; các lớp đất sâu hơn 5m là dạng cố kết thường.
d) Tinh chat lưu biến: Dat sét yếu là một môi trường dẻo nhớt. Chúng có tính từ biến và có khả năng thay đổi độ bền khi cho tải trọng tác dụng lâu dài. Khả năng này gọi là tính chất lưu biến, tức là tính chảy như chất nước. Hiện tượng từ biến trong đất sét yếu liên quan đến sự ép thoát nước bất động và biến dạng chậm của các màng nước liên kết khi nén chặt và sự thay đổi mật độ kết cấu của đất đo kết quả chuyên dịch các hạt và các khối lên nhau.
Ngoài sự từ biến, trong tính lưu biến của đất sét còn có biêu hiện giảm dần ứng suất trong đất khi biến dạng không đổi, đó là sự chùng ứng suất. Chu kỳ chùng ứng suất ở đất sét yếu thường rất ngắn. 3) Đặc điểm biến dạng của đất sét yếu: Tính chất biến dạng của đất sét yếu do bản chất mối liên kết giữa các hạt quyết định. Đất sét yếu có khả năng nén chặt và củng cố dưới tác dụng của ứng suất.
Quá trình biến đạng ở đất sét yếu xảy ra trong thời gian dài với tốc độ bé đo hệ số thấm bé. Biến dạng của đất sét yếu là do sự phá hoại các mối liên kết cấu trúc và biến dạng của các màng nước liên kết gây nên. Quá trình biến dạng lún xảy ra khi các hạt đất được xếp chặt hơn do các hạt trượt cục bộ, sự chèn lấp của các hạt bé vào khoảng trống của các hạt lớn hơn, do sự giảm chiều dày màng keo nước hoặc màng nước liên kết vật lý bao quanh hạt đất và bên trong những khoáng chất riêng biệt. Quá trình biến dạng lún còn đo thấm thoát nước lỗ rỗng, hiện tượng thấm đo nén ép, tính từ biến của cốt đất làm biến hình mạng tỉnh thê hạt khoáng và còn do sự chảy nhớt chậm chạp của các lớp phân tử nước liên kết chắc, ảnh hưởng đến su sap xép chặt lại của các hạt đất.
KHÁI QUAT VE DJA CHAT KHU VUC PBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long được tạo thành nhờ quá trình bồi tụ và lắng đọng trầm tích trong điều kiện biển nông, cùng với dòng chảy mang phù sa của các sông ra biển (sông Cửu Long, sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn).