CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của đề tài Lớp phủ mặt đất là lớp phủ vật chất quan sát được nhìn từ trên cao hoặc qua viễn thám. Thay đổi lớp phủ mặt đất là kết quả của sự tương tác phức tap của con người và môi trường, vì nó liên quan sự suy thoái đất (Lambin and Meyfroidt, 2010). Thông tin về trạng thái và biến động của lớp phủ mặt dat là yếu tố cần thiết dé quan lý tài nguyên thiên nhiên, giám sát biến đổi môi trường toàn cầu và hiệu ứng của chúng (Loveland and Belward, 1997).
Hồ Dầu Tiếng là một trong những hồ chứa nước quan trọng nhất của ngành thuỷ lợi ở Việt Nam, với tổng diện tích mặt nước rộng lớn lên đến 27. Hồ này có khả năng chứa được khoảng 1.580 triệu m° nước, trong đó dung tích hữu ích là 1. Với diện tích lưu vực 2.700 km2, hồ này đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết và cung cấp nước cho các khu vực xung quanh (Thủ tướng Chính phủ, 2019). Hồ Dầu Tiếng là nguồn cung cấp nước chính cho nhiều hoạt động sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp trong khu vực.
Ngoài ra, khu vực nay còn mang lại giá trị văn hóa, xã hội, môi trường to lớn đối với người dân địa phương. Do đó, sự biến động lớp phủ mặt đất có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với tài nguyên thiên nhiên, bao gồm thay đối thảm thực vật, biến đổi đặc tính vật ly của đất, sự xáo trộn trong quan thé động thực vật, và anh hưởng đến các yếu tố tạo nên khí hậu đối với lưu vực hồ Dầu Tiếng. Xuất phát từ các lý do trên, dé tài “Phân tích thay đổi lớp phủ mặt đất tại lưu vực hồ Dầu Tiếng trong giai đoạn 2015-2023” đã được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung của đề tài là phân tích thay đổi lớp phủ mặt đất tại lưu vực hồ Dầu Tiếng trong giai đoạn 2015-2023.
Các mục tiêu cụ thể bao gồm: e Thành lập bản đồ lớp phủ mặt đất tại lưu vực hồ Dầu Tiếng năm 2015, 2020, 2023. e Thành lập bản đồ biến động lớp phủ mặt đất tại lưu vực hồ Dầu Tiếng trong giai đoạn 2015-2020, 2020-2023. Phân tích thay đối lớp phủ mặt đất tại khu vực nghiên cứu lưu vực hồ Dầu Tiếng trong giai đoạn 2015-2023. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là lớp phủ mặt đất bao gồm rừng, cây trồng, đất xây dựng, đất trống, mặt nước.
Phạm vi nghiên cứu là lưu vực hồ Dầu Tiếng trong giai đoạn 2015-2023. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tổng quan đối tượng nghiên cứu 2. Khái niệm lớp phủ mặt dat Lớp phủ mặt đất là lớp phủ vật chất quan sát được nhìn từ trên cao hoặc qua viễn thám, được gọi là lớp phủ mặt đất.
Nó bao gồm thực vật (mọc tự nhiên hoặc được trồng cấy) và các công trình do con người tạo ra như đường sá, nhà được bao phủ bề mặt đất. Lớp phủ mặt đất bao gồm những thứ như các dai cát trắng, nước, băng và đất 16 (Jansen and DI Gregorio, 2000). Nguyên nhân thay đối lớp phủ mặt đất Thay đôi lớp phủ mặt đất là kết quả của sự tương tác phức tạp của con người và môi trường, vì nó liên quan sự suy thoái đất (Lambin and Meyfroidt, 2010). Những thay đổi này ảnh hưởng đáng ké bao gồm sự cân bằng năng lượng, nước và đất đến các khía cạnh quan trọng trong hoạt động của hệ thống trái đất.
Hơn nữa, áp lực lên nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế, gây ra bởi sự gia tăng dân số, góp phan làm thay đổi độ che phủ bề mặt đất. Thay đổi lớp phủ mặt đất được thúc đây bởi một số yếu tố tương tác tác động ở cấp độ toàn cau, khu vực và địa phương. Bắt nguồn từ yếu tố tự nhiên như động đất, lở đất và phun trào núi lửa gây ra, bên cạnh đó biến đổi khí hậu cũng có thể gián tiếp ảnh hưởng đến bằng cách tăng nhu cầu về đất trồng trọt và buộc các cộng đồng dé bị tổn thương do biến đổi khí hậu cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng thay đổi lớp phủ mặt đất. Sự thay đổi về lớp phủ mặt đất là một van dé quan trong, anh hưởng trực tiếp đến đời sống con người và môi trường.
Những thay đổi này có thé mang đến lợi ích nhưng cũng tiềm an nhiều tác động tiêu cực, cả mong muốn và không mong muốn (Janina Kleemann et al. Vai trò lớp phủ mặt dat Nghiên cứu về phân bố và động lực của lớp phủ mặt đất là một phần quan trọng trong việc hiểu sâu hơn về các đặc điểm và quy trình cơ bản của trái đất. Các yếu tố này bao gồm năng suất đất, đa dạng của các loải thực vật và động vật, cũng như chu trình sinh 3 học và thủy văn. Đánh giá và theo dõi phân bố và động lực của các môi trường như rừng, cây bụi, đồng cỏ, đất canh tác, đất hoang và khu đô thị trên toàn cầu đều là ưu tiên hàng đầu trong nghiên cứu về biến đổi môi trường toàn cầu, cũng như trong quá trình lập kế hoạch và quản lý hàng ngày.
Thông tin về trạng thái và biến động của lớp phủ mặt đất là yếu tô cần thiết dé quản lý tài nguyên thiên nhiên, giám sát biến đổi môi trường toàn cầu và hiệu ứng của chúng (Loveland and Belward, 1997). Tổng quan khu vực nghiên cứu 2. Vị trí địa lí Hồ Dầu Tiếng nằm trong lòng sông Sài Gòn, là kết quả của việc xây dựng đập chắn dòng thượng nguồn vào tháng 4 năm 1981. Sau quá trình xây dựng đồng bộ.
hồ nay đã chính thức được đưa vào hoạt động và sử dụng từ tháng 1 năm 1985. Hồ Dầu Tiếng là một trong những hồ chứa nước quan trọng nhất của ngành thuỷ lợi ở Việt Nam, với tổng diện tích mặt nước rộng lớn lên đến 27. Hồ này có khả năng chứa được khoảng 1.580 triệu m° nước, trong đó dung tích hữu ich là 1. Lưu vực hồ Dầu Tiếng nằm trên lãnh thé của 3 tinh: Tây Ninh, Bình Duong va Binh Phước, trải rộng trên 8 dia bàn cấp huyện bao gồm: huyện Tân Châu, Dương Minh Châu và thành phố Tây Ninh (tỉnh Tây Ninh); huyện Dầu Tiếng (tinh Bình Duong); huyện Chon Thành, Hon Quản, Lộc Ninh và thị xã Bình Long (tỉnh Bình Phước) (Hình 2.
Khu vực đầu nguồn của hồ nằm tại huyện Tân Chau, tỉnh Tây Ninh và huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Điều kiện tự nhiên (1) Địa hình Lưu vực của hồ nằm trên một địa hình chuyển tiếp, với vùng thượng lưu ở phía Đông là đồi thấp, có hình dang hình lòng chảo dan thoải về dòng sông chính là sông Sài Gòn. Hướng độ dốc của địa hình là Đông Bắc - Tây Nam, không phải là hướng thuận lợi dé đón gió mang mưa, ngoại trừ vùng thượng lưu do sự chi phối của nhánh Tống Lê Chân. Độ cao trung bình so với mực nước biển dao động từ 25 m đến 27 m.
Phần thượng lưu của lưu vực, hướng về phía Campuchia, có độ cao so với mặt nước biên từ 50 m đên 100 m, trong khi khu vực lòng hồ có độ cao từ 5 m đến 15 m (Huỳnh Đức Khanh, 2021). 610000 620000 630000 640000 650000 660000 670000 680000 = Chi thich | N R E | FEEI Hồ Dầu Tiếng l š @ | Bia gidi tinh | 2 = Tinh Binh Dương ị Tỉnh Bình Phước | veer © |_ Tinh Tay Ninh :. = i Bien gidi quéc gia | § © | —— SongSuoit ee | | LÍ a | | 3 l5 | 2 | CAMPUCHIA| 3š || ain || | § —==-l§ 8 2 | 8 = e° e° S 8 El El Ñ Ñ J o 3 3 3 3 = = 3 3 s s Ñ Ñ ° e° s s 3 5 § 8 § § s s a Ñ ° ° E § x š 10000 620000 630000 640000 660000 680000 670000 680000 Hình 2. Vi trí địa lí lưu vực hồ Dau Tiếng (2) Thổ nhưỡng Đất trên lưu vực hồ Dầu Tiếng phát triển nông nghiệp đa dạng và thuận lợi cho việc phát triển cơ sở hạ tầng.
Có tổng cộng 3 nhóm đất chính phân bố tương ứng với dạng địa hình: đất nâu đỏ, đất xám và đất phù sa chua. Các vùng cao có độ cao khoảng 150 m (Cao Liêm, 1976), được phân loại là đất nâu đỏ, là loại đất phổ biến tại khu vực Lộc Ninh, Bình Long thuộc tỉnh Bình Phước và khu 5 vực Tân Châu thuộc tỉnh Tây Ninh. Đây là loại đất có đặc điểm giàu chất hữu cơ và dinh dưỡng, có khả năng tưới tiêu tốt và thoát nước hiệu quả thích hợp cho việc trồng trọt và có tiềm năng phát triển trong lĩnh vực lâm nghiệp. Các khu vực đất thấp hơn trong lưu vực thường là dat xám, loại đất phổ biến nhất với độ dày trung bình khoảng 110 em (Cao Liêm, 1976).
Tính chất chủ yêu của đất xám là khả năng cung cấp nền đất màu mỡ cho cây trồng, giúp chúng phát triển mạnh mẽ và có năng suất cao. Điều này khiến cho đất xám trở thành lựa chọn hàng đầu cho các hoạt động nông nghiệp và trồng trọt. Đất phù sa chua có độ dày trung bình khoảng 130 cm, là một loại dat ít phố biến trong lưu vực. Các khu vực đất phù sa chua thường nằm tại các địa điểm như xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, ấp Giáp Minh, huyện Dau Tiếng, tinh Binh Dương, và Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (Cao Liêm, 1976).
Dat phù sa chua có đặc điểm là chứa nhiều chất hữu cơ và dinh dưỡng, tuy nhiên thường ít phổ biến hơn so với các loại đất khác trong khu vực lưu vực. Nhưng đất phù sa chua van có thé cung cấp một nền đất màu mỡ cho cây trồng, đặc biệt là trong việc trồng cây lúa và các loại cây nông nghiệp khác (Thủ Tướng Chính Phủ, 2023a). (3) Khí hậu Hồ Dầu Tiếng nói riêng và lưu vực sông Sài Gòn nói chung nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa. Khí hậu được phân thành hai mùa rõ riệt: mùa mưa bắt đâu từ tháng 6 - 11.
Gió thịnh hành là gió mùa Tây Nam trong thời gian này với tốc độ trung bình 1,6 - 2,1 m/s và gây nên mưa lớn. Ngược lại,mùa khô bắt đầu từ tháng 12 - 6, gió thịnh hành trong thời gian này là gió mùa Đông Bắc có tốc độ trung bình 1,8 - 2,2 m/s, gió mang không khí khô và tạo ra mùa khô. Lượng mưa mùa này chỉ chiếm 10 - 15% lượng mưa năm. Lượng mưa bình quân nhiều năm trên toàn lưu vực khoảng 1.
Nhiệt độ trung bình năm là 27°C, thay đôi rất ít trong năm.