Phân tích sơ bộ thành phần hóa học và chiết phân đoạn rễ cây đinh lăng trồng tại An Giang

Phân tích sơ bộ thành phần hóa học và chiết phân đoạn rễ cây đinh lăng trồng tại An Giang, nghiên cứu giá trị dược liệu tiềm năng.

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

87
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cây đinh lăng

Cây đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms) thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae), là một loại cây dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền. Cây được trồng phổ biến tại An Giang, Việt Nam, và có giá trị cao trong việc điều chế các sản phẩm dược phẩm. Thành phần hóa học của cây đinh lăng bao gồm các hợp chất như saponin, flavonoid, acid amin, và tinh dầu, mang lại nhiều dược tính quan trọng. Nghiên cứu về cây đinh lăng không chỉ giúp hiểu rõ hơn về hoạt chất sinh học mà còn mở ra hướng ứng dụng trong y học và công nghiệp dược phẩm.

1.1. Vị trí phân loại và đặc điểm thực vật

Cây đinh lăng thuộc chi Polyscias, họ Nhân sâm (Araliaceae), phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Đặc điểm thực vật của cây bao gồm thân nhỏ, lá kép, hoa nhỏ màu trắng hoặc xanh nhạt. Cây có khả năng tái sinh dinh dưỡng cao, thường được trồng bằng phương pháp giâm cành. Đinh lăng trồng tại An Giang được đánh giá cao về chất lượng do điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp.

1.2. Thành phần hóa học chính

Thành phần hóa học của cây đinh lăng bao gồm các hợp chất như saponin triterpenoid, flavonoid, acid amin, và tinh dầu. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng rễ cây chứa hàm lượng saponin cao nhất, đóng vai trò quan trọng trong dược tính của cây. Ngoài ra, lá cây cũng chứa các hợp chất flavonoid như quercitrin và kaempferol, có tác dụng chống oxy hóa và kháng viêm.

II. Phương pháp chiết xuất và phân tích

Quá trình chiết phân đoạn rễ cây đinh lăng được thực hiện bằng các phương pháp như chiết lỏng-lỏngchiết rắn-lỏng. Các kỹ thuật này giúp tách các hợp chất hóa học từ nguyên liệu thô, tạo ra các phân đoạn giàu hoạt chất. Phân tích hóa học được thực hiện bằng các phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC) và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) để xác định và định lượng các hợp chất chính.

2.1. Kỹ thuật chiết xuất

Chiết xuất thực vật từ rễ cây đinh lăng được thực hiện bằng các dung môi như ethanol, nước, và ethyl acetate. Quá trình này giúp tách các hợp chất saponin và flavonoid từ nguyên liệu thô. Phương pháp chiết lỏng-lỏng được sử dụng để tách các phân đoạn giàu hoạt chất, trong khi chiết rắn-lỏng giúp loại bỏ tạp chất và tinh chế các hợp chất.

2.2. Phân tích thành phần hóa học

Phân tích thành phần các phân đoạn chiết xuất được thực hiện bằng các phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC) và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Các kết quả phân tích cho thấy sự hiện diện của các hợp chất saponin triterpenoid và flavonoid, đóng vai trò quan trọng trong dược tính của cây đinh lăng.

III. Ứng dụng và giá trị thực tiễn

Các nghiên cứu về thành phần hóa họcchiết phân đoạn rễ cây đinh lăng đã mở ra nhiều hướng ứng dụng trong y học và công nghiệp dược phẩm. Các hợp chất saponin và flavonoid có tiềm năng trong việc phát triển các sản phẩm hỗ trợ sức khỏe và điều trị bệnh. Đinh lăng trồng tại An Giang được đánh giá cao về chất lượng, là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho các nghiên cứu và sản xuất dược phẩm.

3.1. Ứng dụng trong y học

Các hợp chất hoạt chất sinh học từ cây đinh lăng có tiềm năng trong việc phát triển các sản phẩm hỗ trợ sức khỏe, chống oxy hóa, và kháng viêm. Các nghiên cứu đang tập trung vào việc khai thác dược tính của cây để ứng dụng trong điều trị các bệnh mãn tính.

3.2. Giá trị kinh tế và công nghiệp

Đinh lăng trồng tại An Giang không chỉ có giá trị trong y học mà còn là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho công nghiệp dược phẩm. Việc phát triển các sản phẩm từ cây đinh lăng có thể góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương và nâng cao giá trị của cây thuốc nam trong nền y học hiện đại.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ ĐINH LĂNG 1. Vị trí, phân loại Đinh lăng Theo như mô tả của TS Trương Thị Đẹp năm 2014, Đinh lăng thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae), chi Polyscias, loài Polyscias fruticosa (L.) Harms ( Trương Thị Đẹp) (2014) Giới thực vật (Plantae) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliosida) Phân lớp Thù Du(Comidea) Bộ Ngũ Gia Bì (Araliales) Họ Nhân sâm(Araliaceae) Chi Polyscias Loài Polyscias fruticosa (L. Sơ đồ vị trí và phân bố của loài Polyscias fruticosa (L.) Harms Đặc điểm họ Nhân sâm (Araliaceae) Các chi thuộc họ Ngũ gia bì thường tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, có rất ít chi trong vùng ôn đới; các chi thường tập trung chủ yếu ở phía Nam, Đông Nam Á và đảo Thái Bình Dương (Armen Takhtajan, 2009; Trương Thị Đẹp,2014) Người thực hiện: Phạm Ngọc Hà Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 2 Khóa luận tốốt nghiệp dược sỹỹ Thân: Cỏ (Panax) hay cây gỗ nhỏ mọc đứng hay cây gỗ to ít phân nhánh, đôi khi leo Lá: Thường mọc cách ở góc thân, mọc đối ở ngọn, đôi khi mọc vòng.

Lá có thể đơn hay kép hình lông chim hoặc kép hình chân vịt. Phiến lá nguyên, có khía răng hoặc có thùy. Lá kèm rụng sớm hay dính vào cuống lá. Bẹ lá tương đối phát triển Cụm hoa: Tán đơn hay kép, tụ thành chùm, đầu ở nách lá hay ngọn cành.

Hoa: Nhỏ, hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5,4 vòng Bao hoa: Lá đài thu hẹp chỉ còn 5 răng, 5 cánh hoa rời và dễ rụng sớm. Bộ nhị: 5 nhị xen kẽ cánh hoa Bộ nhụy: 5 lá noãn dính nhau thành bầu dưới có 5 ô, mỗi ô 1 noãn; đôi khi có 10 lá noãn, ít khi giảm còn 3 hay 1 lá noãn; vòi rời. Quả: Mọng hay quả hạch, có hạt nội nhũ Ở Việt Nam có trên 20 chi: Acanthompanax, Aralia, Aralidium, Arthrophyllum, Brassaiopsis, Dendropanax, Dizygotheca, Evodiopanax, Grushvitzkia, Hedera, Heteropanax, Macropanax, Panax, Plerandropsis, Polycias (Nothopanax), Pseudopanax, Schefflera, Scheffleropsis, Tetrapanax, Trevesia, Tupidanthus; gần 120 loài (Armen Takhtajan, 2009; Trương Thị Đẹp, 2014) 1.Tên Việt Nam, tên khoa học, tên gọi khác 1. Tên Việt Nam Tên Việt Nam: Đinh lăng 1.

Tên khoa học Cây Đinh lăng có tên khoa học là Polyscias fruticosa (L.) Harms, họ Nhân sâm (Araliaceae) (Dược điển Việt Nam IV, 2009) Người thực hiện: Phạm Ngọc Hà Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 3 Khóa luận tốốt nghiệp dược sỹỹ Tên đồng nghĩa: Nothopanax Fruticosus (L.) Harms (Đỗ Tất Lợi, 2004), Tieghemopanax fruticosa(L.Seidemann, 2005), Panax fruticosa L. Tên gọi khác Đinh lăng còn có các tên gọi khác như: Đinh lăng lá nhỏ, cây Gỏi cá, Nam dương lâm. Tên nước ngoài: Ming aralie; Tea tree; Ginseng tree (Anh); Polyscias (Pháp) Strau chige Fiederaralie (Greman); Taiwan momiji (Japanese);Bani, Makan, Papua(Philipion); Ovang (Sumatra) (DĐVN IV, 2009; Đỗ Huy Bích và cs, 2006).2 Toàn cảnh lá và cây đinh lăng 1. Một số loại Đinh lăng khác 1.

Đinh lăng lá tròn Tiểu mộc cao 1-2 m, thơm. Lá kép thường mang 3 lá chét trên một cuống dài, lá chét hình tròn, đầu tù, xanh đậm, không lông, bìa có răng nhọn, cuống phụ 1 cm; cuống có đáy thành bẹ. Chùm tụ tán mang tán to 1-1,5 cm; hoa có 6 cánh hoa, 6 tiểu nhụy.Thường được trồng làm kiểng, gốc Tân Caledonia III (Phạm Hoàng Hộ, 2003; Đỗ Huy Bích và cs, 2006). Đinh lăng lá ráng Được gọi là Polyscias ilicifolia Bailf.

Có tên khác là Polyscias cumingiana (C.-Vill, Anthrophyllum pinnatum (Lam.) Clarke Người thực hiện: Phạm Ngọc Hà Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 4 Khóa luận tốốt nghiệp dược sỹỹ (J.Tiểu mộc cao đến 2,5 m; thân có bì khổng. Lá kép có 11-13 lá chét; lá chét hình mác có răng cưa và sâu. Lá đặc biệt đa dạng: ở thân non, kép 1-2 lần thành đoạn hẹp nhọn, bìa có răng nhọn, dạng lá ráng; ở nhánh già lá đơn, xoan đến thon, thường lục tươi, gân giữa tía. Trồng ở đảo Thái Bình Dương (Đỗ Huy Bích và cs, 2006; Phạm Hoàng Hộ, 2003) 1.

Đinh lăng trổ Tên khoa học là Polyscias guilfoylei (Cogn. Lá kép có 7 lá chét: lá chét thường có viền trắng (Đỗ Huy Bích và cs, 2006). Đinh lăng lá răng Tên khoa học là Polyscias serrata Balf. Bụi cao 50-150 cm; thân xám trắng, không lông, cành non xanh.

Lá thơm, 2 lần kép (Phạm Hoàng Hộ, 2003). Polyscias grandifolia Volkens, 1965 Micronesicaa Trồng ở Hà Nội (Phạm Hoàng Hộ, 2003) 1. Đinh lăng đĩa Tên khoa học là Polysicas scutellarius (Burm. Cây nhỏ, cao 1- 2m; thân nâu đen, có bì khẩu trắng.

Lá đơn hay do 2-3 lá phụ, phiến tròn bũm như cái dĩa hay bán cầu, xanh hay trổ, không lông. Chùm tụ tán thông dài; tán 5-8 hoa, hoa giữa không cọng; cánh hoa xanh, cao 3,5mm. Có nguồn gốc từ Mexico (Phạm Hoàng Hộ, 2003). Mô tả đặc điểm thực vật Đinh lăng 1.

Mô tả Cây nhỏ dạ ng bụi, xanh tốt quanh năm, có thể cao từ 1,5 -2m. Thân nhám, không gai, ít phân nhánh, mang nhiều vết sẹo to, màu xám, các nhánh non có nhiều lỗ bì lồi. Lá kép, mọc so le, kép lông chim 2-3 tán, Người thực hiện: Phạm Ngọc Hà Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 5 Khóa luận tốốt nghiệp dược sỹỹ dài 20-40 cm; lá chét có răng cưa nhọn không đều, đôi khi chia thùy, gốc và thuôn nhọn, có mùi thơm khi vò nát; cuống lá dài, phát triển thành bẹ to ở phần cui; các đoạn đều có cuống. Cụm hoa mọc ở ngọn thành hình chùy ngắn mang nhiều tán; lá bắc rộng, sớm rụng; loa nhỏ, màu lục nhạt hoặc trắng xám; mép uốn lượn; tràng 5 cánh trái xoan; nhị 5, chỉ nhị ngắn; bán hạ, 2 ô.

Quả dẹt, hình trứng rộng, màu trắng bạc. Mùa hoa quả: Tháng 4-7 (Armen Takhtajan, 2009; Phạm Hoàng Hộ, 2003; Trương Thị Đẹp, 2014; Võ Văn Chi, 2012).3 Toàn cảnh cây và hoa đinh lăng 1. Sinh thái Cây có khả năng tái sinh dinh dưỡng cao. Người ta thường trồng chủ yếu bằng cách giâm cành; chọn những cành già, chặt thành đoạn ngắn 15 -20cm, cắm nghiêng xuống đất.

Thời gian gieo trồng vào tháng 2-4 hoặc tháng 8-10. Đinh lăng ưa đất cao ráo, hơi ẩm (Võ Văn Chi, 2012). Thu hái chế biến Thu hoạch rễ của cây đã trồng từ 3 năm trở lên (cây trồng càng lâu năm càng tốt). Người thực hiện: Phạm Ngọc Hà Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 6 Khóa luận tốốt nghiệp dược sỹỹ Rễ củ thu hái thường vào mùa thu, lúc này rễ mềm, nhiều hoạt chất, rửa sạch.

Rễ nhỏ để nguyên, rễ to chỉ dùng vỏ rễ.Thái rễ mỏng, đem rửa sạch, phơi khô ở chỗ mát, thoáng gió để đảm bảo mùi thơm và hoạt chất. Khi dùng để nguyên hoặc tẩm rượu gừng 5%, sao qua, rồi tẩm 5% mật ong hoặc mật mía. Lá thu hái quanh năm thường dùng tươi (DĐVN IV, 2009; Võ Văn Chi, 2012). Phân bố thu hái Chi Polyscias Forst & Forstf.

có gần 100 loài trên thế giới, phân bố rải rác ở các vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới, nhất là một số đảo ở Thái Bình Dương. Ở Việt Nam có khoảng 7 loài đều là cây trồng. Đinh lăng có nguồn gốc ở vùng đảo Polynesic ở Thái Bình Dương. Cây được trồng ở Malaysyia, Indonesia, Campuchia, Lào.

Ở Việt Nam, Đinh lăng cũng có từ lâu trong nhân dân và được trồng khá phổ biến ở vườn gia đình, đình chùa, trạm xá, bệnh viện,.để làm cảnh, làm thuốc và rau gia vị. Đinh lăng là loại cây ưa ẩm và có thể chịu bóng, trồng được trên nhiều loại đất, thậm chí với một lượng đất rất ít trong chậu nhỏ, cây vẫn có thể sống được theo kiểu cây cảnh bonsai. Trồng bằng cành sau 2-3 năm cây có hoa quả. Chưa quan sát được cây con mọc từ hạt.

Đinh lăng có khả năng tái sinh vô tính khỏe. Từ một đoạn thân hoặc cành cắm xuống đất đều trở thành cây mới(Đỗ Huy Bích, 2006; Võ Văn Chi, 2012; Đỗ Tất Lợi, 2004; Phạm Hoàng Hộ, 2003; Nguyễn Thượng Dong và cs, 2007). Trồng trọt Người thực hiện: Phạm Ngọc Hà Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 7 Khóa luận tốốt nghiệp dược sỹỹ Đinh lăng được trồng phân tán ở khắp nơi, để làm cảnh, lá làm gia vị, rễ làm thuốc. Hiện nay, một số nơi đã bắt đầu trồng Đinh lăng ở quy mô sản xuất thử(1000 -2000m2).

Đinh lăng được nhân giống bằng cành trong chậu, góc sân, góc vườn,. người ta chỉ cần lấy một đoạn thân cành cấm xuống đất là được. Nếu trồng diện tích lớn, chọn cành bánh tẻ có đường kính 1-1,5 cm, cắt thành từng đoạn dài 5-7 cm, giâm trong cát ẩm(70%). Sau 7-10 ngày, Hom giống nảy mầm và sau 1,5 -2 tháng có thể ra ngòi.

Cành giâm lúc đầu chỉ ra rễ ở đầu dưới của cành. Thực tiễn thấy rằng, rễ này nhỏ và chất lượng kém hơn rễ phát sinh từ gốc chồi tái sinh. Tuy nhiên, chồi tái sinh của Đinh lăng ra rễ rất chậm. Đó là lý do tại sao Đinh lăng lâu được thu hoạch.

Vấn đề này đang được nghiên cứu để tìm giải pháp khắc phục. Đất trồng Đinh lăng cần nhiều màu, tầng canh tác sâu. Tơi xốp, cao ráo, thoát nước và tiện tưới. Sau khi làm đất, khơi rãnh thoát nước hoặc lên thành luống, bứng cây con ra trồng vi khoảng cách 0,8x0,6 m.

Mỗi gốc cây, cần bón lót 3-5kg phân chuồng hoặc phân rơm mục. Đinh lăng trồng được quanh năm, tốt nhất là giâm cành vào tháng 5-6 và trồng vào tháng 7-8. Khi trồng nên cắt bớt lá để hạn chế thoát hơi nước, giúp cây nhanh hồi phục. Cây ưa bóng và ưa ẩm nên có thể trồng xen dưới tán cây trong vườn.

Thường xuyên làm cỏ, nhất là lúc mới trồng cây. Từ giữa mùa xuân đến mùa thu, thi kỳ sinh trưởng mạnh, cần bón thúc cho cây. Dùng nước phân chuồng, nước giải pha loãng, phân vi sinh, liều lượng tùy thuộc độ sinh trưởng của cây. Đinh lăng không có sâu bệnh nghiêm trọng.

Cây trồng sau 7-10 năm mới được thu hoạch. Cây càng già, năng suất và chất lượng rễ càng cao(Đỗ Huy Bích, 2006). Người thực hiện: Phạm Ngọc Hà Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 8 Khóa luận tốốt nghiệp dược sỹỹ 1. Thành phần hóa học Năm 1989, Nguyễn Khắc Viện đã nghiên cứu và cho thấy trong rễ có 4% saccarose, một chất kết tinh A chưa xác định cấu trúc hóa học, có điểm sôi trong khoảng 158-161oC, tan nhiều trong chloroform và aceton (Nguyễn Khắc Viện, 1989).

Năm 1990, Nguyễn Thới Nhâm và cộng sự đã công bố trong thành phần của rễ, thân và lá có các glycosid, alkaloid, tanin, vitamin B1 và khoảng 20 loại acid amin như arginin, alanin, asparagin, acid glutamic, leucin, lysin, phenylalanin, prolin, threonin, tyrosin, cystein, tryptophan, metionin. Arginin Alanin Asparagin Cystein Acid glutamic Leucin Người thực hiện: Phạm Ngọc Hà Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 9 Khóa luận tốốt nghiệp dược sỹỹ Phenylalanin Prolin metionin Threonine Tyrosine Tryptophan Lysine Hình 1. Một số acid amin có trong cây Đinh lăng Năm 1990, Brophy Joseph J.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Phân tích thành phần hóa học và chiết phân đoạn rễ cây đinh lăng trồng tại An Giang là một nghiên cứu chuyên sâu về thành phần hóa học và quy trình chiết xuất từ rễ cây đinh lăng, một loại dược liệu quý được trồng tại An Giang. Bài viết cung cấp thông tin chi tiết về các hợp chất có lợi trong rễ cây, phương pháp chiết xuất hiệu quả, và tiềm năng ứng dụng trong y học và dược phẩm. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến dược liệu tự nhiên và quy trình nghiên cứu khoa học.

Để mở rộng kiến thức về các hợp chất tự nhiên và phương pháp chiết xuất, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Hcmute cô lập lignan và iridoid từ cây mắm trắng avicennia alba bl avicenniaceae, nghiên cứu về các hợp chất lignan và iridoid từ cây mắm trắng. Ngoài ra, bài viết Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu xây dựng quy trình định lượng mangiferin trong cây tri mẫu bằng phương pháp hplc cung cấp thông tin về quy trình định lượng hợp chất mangiferin, một phương pháp hữu ích trong nghiên cứu dược liệu. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sự ức chế tăng sinh tế bào và cảm ứng apoptosis trên tế bào ung thư của cao chiết cây sâm đá curcuma singularis sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của cao chiết từ dược liệu lên tế bào ung thư. Hãy khám phá thêm để có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này!