Chương I. Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm vẻ tăng trưởng kinh tế, Chương 2. Phân tích tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ngãi. Giải pháp thúc đây tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ngãi.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE TANG TRUONG KINH TE VA TONG QUAN CAC NGHIEN CUU THUC NGHIEM VE TANG TRUONG KINH TE 1. NHỮNG VAN DE CHUNG VE TANG TRUONG KINH TE 1. Tăng trưởng kinh tế và các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế 1. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế (economic growth) là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định [8] Tăng trưởng kinh tế còn được định nghĩa là sự gia tăng sản lượng sản xuất mà nên kinh tế tạo ra theo thời gian.
Tăng trưởng kinh tế đơn thuần là sự lớn mạnh của nền kinh tế về mặt số lượng nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ giữ nguyên về cơ cấu và chất lượng. Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng sự chênh lệch của tổng sản lượng nền kinh tế của thời kỳ sau so với thời kỳ trước. Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đẻ cót lõi của lý luận phát triển kinh tế. Việc nghiên cứu tăng trưởng kinh tế ngày càng có hệ thống và hoàn thiện hơn.
Nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và sử dụng có hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng. Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng, tăng trưởng kinh tế trước hết là một vấn đẻ kinh tế, song nó mang tính chính trị xã hội sâu sắc. Theo cuốn Sách chuyên khảo “Các mô hình tăng trưởng kinh tế" của PGS.TS Trần Thọ Đạt (2005) thì các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế là cách diễn đạt quan điểm cơ bản vẻ tăng trưởng kinh tế thông qua các yếu tố đầu vào và mối quan hệ giữa chúng. Trên thể giới, các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế liên tục ra đời và phát triên trong suốt thế kỷ XX, các lý thuyết tăng trưởng này là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách của mỗi quốc gia.
Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào hai quá trình đó là: sự tích lũy tài sản (như vốn, lao động và đất đai) và đầu tư những tài sản này có năng suất hơn. Tiết kiệm và đầu tư là trọng tâm của tăng trưởng kinh tế, nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đây mạnh được tăng trưởng. Chính sách của chính phủ, thể chế, sự ôn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa lý, nguồn tải nguyên thiên nhiên và trình độ y tế và giáo dục, tất cả đều đóng vai trò nhất định ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế được xem xét dưới góc độ số lượng và chất lượng.
Mặt số lượng của tăng trưởng kinh tế là biểu hiện bên ngoài của sự tăng trưởng, nó thể hiện ở ngay trong khái niệm về tăng trưởng và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đánh giá quy mô vả tốc độ tăng trưởng thu nhập. Nếu quy mô và tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu phản ánh tổng thu nhập và thu nhập bình quân đầu người cao, có thể nói, đó là biểu hiện tích cực về mặt lượng của. tăng trưởng kinh tế. Mặt chất lượng của tăng trưởng kinh tế được phản ánh thông qua hai chỉ số quan trọng là chỉ số đo lường hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) và năng suất các nhân tố tổng hợp (TEP).
Ngoài hai chỉ số lượng tăng trưởng quan trọng nêu trên, còn có thêm hai chỉ số đánh giá chất lượng. tăng trưởng là chỉ số đổi mới sáng tạo (liên quan đến yếu tổ công nghệ và kiến thức) và chỉ số cường độ tiêu hao năng lượng (liên quan đến môi trường). Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế Các chỉ tiêu phản ánh giá trị tăng trưởng kinh tế theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) bao gồm: tổng giá trị sản xuất (GO), tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tông thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập quốc dân (NI), tổng sản phẩm tính bình quân đầu người. Trong đó chỉ tiêu GDP thường là chỉ tiêu quan trọng và được sử dụng nhiều nhất.
Trong số nhiều chỉ tiêu thống kê, đo lường về nền kinh tế, GDP là chỉ tiêu quan trọng nhất mà các Chính phú lựa chọn để đánh giá và so sánh tăng trưởng của các quốc gia trên thể giới, mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhất định trong nội dung phản ánh. GDP là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp đánh giá kết quả hoạt động sản xuất trong phạm vi lãnh thổ kinh tế của một quốc gia. Nội dung của GDP được xét dưới các góc độ khác nhau, từ đó đưa tới ba phương pháp để tính chỉ tiêu kinh tế tổng hợp này. Cu thé, theo góc độ sử dụng cuối cùng, GDP là tổng cầu của nẻn kinh tế gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư, tiêu dùng cuối củng của Nhà nước, tích luỹ tài sản (tải sản cố định, tài sản lưu động và tài sản quý hiếm), chênh lệch xuất nhập khâu hàng hod va dich vu.
Theo góc độ thu nhậi. GDP bằng tổng thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất như lao động, vốn, đất đai, máy móc. Theo góc độ sản xuất, GDP là tổng giá trị tăng thêm theo giá cơ bản của các ngảnh kinh tế và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm. Với nội hàm của chỉ tiêu GDP, các nhả hoạch định chính sách và Ngân hang Nhà nước có thê đánh giá thực trạng nền kinh tế đang dư thừa hay thiếu hụt, liệu có cần thúc đấy hay kiềm chế, có các mối đe dọa như suy thoái hoặc lạm phát tràn lan không, từ đó kịp thời thực hiện các biện pháp cần thiết cho.
nên kinh tế quốc dân. Các nhà đầu tư chú ý đến GDP vì một tỷ lệ phần trăm thay đổi đáng kể trong GDP - tăng hoặc giảm - có thể có tác động đáng kẻ đến thị trường nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Ngoài ra, có thể dựa vào diễn biến của GDP để phân tích tác động của các biến số như chính sách tiền tệ và tài khóa, thuế, chỉ tiêu của chính phủ, các cú sốc kinh làm cơ sở đưa ra các quyết định quản lý hiệu quả. Theo tông hợp của Nguyễn Minh Thu (2021), GDP được hầu hết quốc gia trên thể giới sử dụng trong đánh giá tăng trưởng kinh tế bởi các lý do chính sau: Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế dựa vào chỉ tiêu GDP giúp các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và phân tích thị trường đưa ra quyết định phù hợp với thực trạng nền kinh tế.
GDP tăng là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang hoạt động tốt, các doanh nghiệp tự tin đầu tư nhiều hơn. Đây lả nền tảng cho tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Ngược lại, khi tăng trưởng GDP rất thấp hoặc nên kinh tế đi vào suy thoái, điều ngược lại sẽ xảy ra: người lao động có thể bị thôi việc, trả lương thấp hơn và các doanh nghiệp không có ý định muốn đầu tư mở rộng thêm. Thứ hai, việc sử dụng GDP trong đo lường tăng trưởng kinh tế rất hữu ích cho các ngân hàng trung ương khi xác định các chỉ tiêu nợ công, nợ chính phủ, bội chỉ ngân sách.
so với GDP, từ đó có những điều chỉnh phù hợp chính sách tải khóa và tiền tệ. Đó còn là cơ sở để tính các chỉ tiêu cân đối khác trong nên kinh tế như tổng tích lũy tài sản trong GDP, tiêu dùng cuối cùng trong GDP, tổng vốn đầu tư xã hội so với GDP, tỷ lệ xuất nhập khẩu so với GDP. Nhờ việc tiếp cận từ hoạt động sản xuất và đo lường kết quả sản xuất của nền kinh tế, GDP được sử dụng trong tính toán các cân đối lớn của nền kinh tế, phản ánh rõ ràng đặc điểm, tính chất tăng trưởng của một quốc gia. Thứ ba, cách tính và cận GDP cho phép họ đánh giá cơ cấu cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và nhóm ngành kinh tế.
GDP được tính và phân tổ theo ngành kinh tế, theo khu vực kinh tế và theo tỉnh/thành phố (GRDP). Đề trở thành cơ sở lập kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế quốc gia, chỉ tiêu GDP giúp phản ánh rõ ràng hơn thực trạng sản xuất của nền kinh tế, của từng ngành kinh tế, từ đó các Chính phủ sẽ có định hướng tập trung phát triển khu vực kinh tế, vùng kinh tế quan tâm. Hơn nữa, do chỉ phụ thuộc vảo các hoạt động sản xuất trong lãnh thổ kinh tế của quốc gia, các Chính phủ đễ dàng và thuận lợi hơn trong thu thập dữ liệu công bó chỉ tiêu GDP theo một số kỳ nhất định trong năm. Với những ưu điểm trên, mặc dù còn một số hạn chế nhất định trong nội dung phản ánh, GDP vẫn là chỉ tiêu quan trọng mà các Chính phủ lựa chọn để đánh giá và so sánh tăng trưởng của các quốc gia trên thế giới.
Từ đó, các quốc gia sẽ có các chính sách phát triển kinh tế phù hợp. các doanh nghiệp cũng có cơ sở để ra quyết định đầu tư, mở rộng hoặc thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh. Tăng trưởng kinh tế được đánh giá ở 2 khía cạnh: (1) tăng về quy mô thể hiện qua các chỉ tiêu về lượng tăng tuyệt đối GDP, (2) nhịp độ tăng thể hiện qua các chỉ tiêu tốc độ tăng GDP. - Lượng tăng tuyệt đối liên hoàn: 6 =%,- Yer (1) - Lượng tăng tuyệt đối định gốc: AY=Y,-Y, (12) ~ Lượng tăng tuyệt đối bình quân: yey, n-1 (13) 10 ~ Tốc độ tăng liên hoàn: Y,— Y„„ 44) 8 =———— xI00% ~ Tốc độ tăng định gốc: Y.—Y¡ T, = * 100% (5) 1 ~ Tốc độ tăng bình quân: "5 (16) gy Trong đó: ¡ GDP tại thời kỳ t.
Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và mô hình tăng trưởng kinh tế 1. Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh té[6] a. Lý thuyết cố điển về tăng trưởng kinh tế Các nhà học thuyết tiêu biểu của lý thuyết tăng trưởng kinh tế cổ điển như: Adam Smith, R.Malthus, David Ricardo. Adam Smith cho rằng tích lũy vốn và cả tiến bộ công nghệ cùng các nhân tố xã hội, thể chế đều đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một nước.
Tăng sản lượng thông qua việc tăng số lượng đầu vào tương ứng, nghĩa là gia tăng tư bản theo chiều rộng.