phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia làm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phân tích tài chính doanh nghiệp Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng tài chính Công ty cổ phần sữa Hà Nội giai đoạn 2012 – 2014 Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của Công ty cổ phần sữa Hà Nội giai đoạn 2012 – 2014 download by : skknchat@gmail.com 3 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp. Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dƣới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong hoạt động của doanh nghiệp.
Các quan hệ kinh tế của tài chính doanh nghiệp bao gồm: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước Quan hệ này đƣợc thể hiện chủ yếu ở chỗ doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nƣớc nhƣ nộp các khoản thuế, lệ phí vào ngân sách… Đối với doanh nghiệp Nhà nƣớc còn thể hiện ở việc: Nhà nƣớc đầu tƣ vốn ban đầu và vốn bổ sung cho doanh nghiệp Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xã hội khác Mối quan hệ này rất đa dạng, phong phú đƣợc thể hiện trong việc thanh toán, thƣởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau. Ngoài quan hệ tài chính với các chủ thể kinh tế khác doanh nghiệp có thể còn có quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác nhƣ doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội… Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp Quan hệ này đƣợc thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán tiền công, thực hiện thƣởng phạt vật chất với ngƣời lao động trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp… download by : skknchat@gmail.com 4 Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh nghiệp Quan hệ này đƣợc thể hiện trong việc đầu tƣ, góp vốn hay rút vốn của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp Đây là mối quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp. (Bạch Đức Hiển, 2008, tr.
Phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phƣơng pháp đƣợc sử dụng để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đƣa ra đƣợc quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá đƣợc doanh nghiệp, từ đó giúp những đối tƣợng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích của họ. (Ngô Thế Chi, 2008, tr. Vai trò của tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp và đƣợc thể hiện ở những điểm chủ yếu sau: Tài chính doanh nghiệp huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần hình thành những tài sản thực, bao gồm nhà xƣởng, máy móc thiết bị cũng nhƣ thƣơng hiệu, phát minh, sáng chế. Tất cả những yếu tố sản xuất chỉ có thể có đƣợc với việc đầu tƣ, mua sắm bằng tiền.
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thƣờng nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thƣờng xuyên cũng nhƣ cho đầu tƣ phát triển của doanh nghiệp. Việc thiếu vốn sẽ khiến cho các hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không triển khai đƣợc. Do vậy, việc đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp đƣợc tiến hành bình thƣờng, liên tục phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức huy động vốn của tài chính doanh nghiệp. download by : skknchat@gmail.com 5 Đối với các doanh nghiệp hiện đại, một trong nhiều hình thức để có nguồn tài trợ cho các tài sản ngắn hạn và dài hạn là việc phát hành các tài sản tài chính nhƣ chứng khoán.
Một trong những điều kiện đảm bảo sự sống còn của doanh nghiệp là việc làm thế nào để các tài sản thực có thể tạo ra đủ tiền mặt để chi trả cho các nguồn tài trợ, bao gồm cả gốc lẫn lãi. Tài chính doanh nghiệp, vì thế có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phù hợp với chiến lƣợc phát triển, chiến lƣợc kinh doanh do ban quản trị doanh nghiệp vạch ra. Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò này của tài chính doanh nghiệp đƣợc thể hiện ở các điểm sau: Việc đƣa ra quyết định đầu tƣ đúng đắn phụ thuộc rất lớn vào việc đánh giá, lựa chọn đầu tƣ từ góc độ tài chính.
Việc huy động vốn kịp thời, đầy đủ giúp cho doanh nghiệp chớp đƣợc cơ hội kinh doanh. Lựa chọn các hình thức và phƣơng pháp huy động vốn thích hợp có thể giảm bớt đƣợc chi phí sử dụng vốn góp phần rất lớn tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Sử dụng đòn bẩy kinh doanh và đặc biệt là sử dụng đòn bẩy tài chính hợp lý là yếu tố gia tăng đáng kể tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu. Huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể tránh đƣợc thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm đƣợc số vốn vay từ đó giảm đƣợc tiền trả lãi vay góp phần rất lớn tăng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ rất hữu ích để kiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình vận động, chuyển hoá hình thái của vốn tiền tệ. Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính và đặc biệt là các báo cáo tài chính có thể kiểm soát kịp thời, tổng quát các mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ đó phát hiện nhanh chóng những tồn tại và những tiềm năng chƣa đƣợc khai thác để đƣa ra các quyết định thích hợp điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt tới mục tiêu đề ra của doanh nghiệp. (Bạch Đức Hiển, 2008, tr.9) download by : skknchat@gmail. Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Hệ thống báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành tài sản, tình hình tài chính cũng nhƣ kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Nói cách khác, báo cáo tài chính là phƣơng tiện trình bày khả năng sinh lợi và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những ngƣời quan tâm. Yêu cầu của báo cáo tài chính, phục vụ mục tiêu phân tích tình hình, là phải cung cấp thông tin một cách trung thực, phản ánh chính xác tình hình tài chính, tình hình kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Để đảm bảo yêu cầu này, các báo cáo tài chính phải đƣợc lập trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định hiện hành có liên quan. Theo chế độ Báo cáo tài chính hiện hành (Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ trƣởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp), hệ thống báo cáo tài chính áp dụng trong các doanh nghiệp có niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán là hệ thống báo cáo tài chính năm và hệ thống báo cáo tài chính giữa niên độ.
Hệ thống báo cáo tài chính giữa niên độ (Báo cáo tài chính quý) đƣợc áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà Nƣớc, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán và các doanh nghiệp khác khi tự nguyện lập báo cáo tài chính giữa niên độ. Báo cáo tài chính giữa niên độ là hệ thống báo cáo tài chính đƣợc lập vào cuối mỗi quý của năm tài chính (không bao gồm quý 4). Thời hạn nộp báo cáo tài chính quý đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán quý. Báo cáo tài chính giữa niên độ gồm báo cáo tài chính dạng tóm lƣợc và dạng đầy đủ.
Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ có các chỉ tiêu, mã số chỉ tiêu, nội dung phản ánh và phƣơng pháp lập giống nhƣ báo cáo tài chính năm tƣơng ứng. (Nguyễn Năng Phúc, 2008, tr. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp Trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trƣờng, có sự quản lý vĩ mô của Nhà Nƣớc, các doanh nghiệp thuộc các loại hình kinh tế khác nhau đều bình đẳng trƣớc pháp luật trong kinh doanh, nhiều đối tƣợng quan tâm đến tình hình tài download by : skknchat@gmail.com 7 chính của doanh nghiệp, nhƣ: các nhà đầu tƣ, các nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng… Mỗi đối tƣợng này đều quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp dƣới những góc độ khác nhau. Các đối tƣợng quan tâm đến thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể đƣợc chia thành 2 nhóm: Nhóm có quyền lợi trực tiếp và nhóm có quyền lợi gián tiếp.
Nhóm có quyền lợi trực tiếp, bao gồm: Các cổ đông, các nhà đầu tƣ, các chủ ngân hàng, các nhà cung cấp tín dụng, các nhà quản lý trong nội bộ doanh nghiệp. Mỗi đối tƣợng trên sử dụng thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho các mục đích khác nhau. (Nguyễn Năng Phúc, 2008, tr.11) Đối với các cổ đông: Trong trƣờng hợp doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trƣờng chứng khoán, các báo cáo tài chính của doanh nghiệp cần đƣợc công bố cho các nhà đầu tƣ. Để đƣợc tham gia vào thị trƣờng chứng khoán, doanh nghiệp cần phải làm các thủ tục để đƣợc ủy ban chứng khoán chấp nhận cho tham gia niêm yết cổ phiếu trên thị trƣờng chứng khoán.
Các cổ đông với mục tiêu đầu tƣ vào doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận nên quan tâm nhiều đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.