Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Việt Nam, nông nghiệp đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo đảm an ninh lương thực và tạo nguồn nông sản hàng hóa xuất khẩu. Đối với tỉnh Hà Giang – một địa phương miền núi phía Đông Bắc có địa hình chia cắt mạnh – việc chuyển đổi từ sản xuất lương thực tự cung tự cấp sang phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm là hướng đi chiến lược nhằm khai thác tiềm năng tự nhiên và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Đề tài chuyên đề tốt nghiệp "Phân tích sự phát triển của cây công nghiệp lâu năm trên địa bàn tỉnh Hà Giang" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn trong công tác quản lý và định hướng sản xuất nông nghiệp của địa phương.
Nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu của chuyên đề được xác định gồm:
- Ngành nông nghiệp tỉnh Hà Giang đang gặp những khó khăn gì trong quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu?
- Loại cây trồng nào đang đóng vai trò chính trong việc phát triển ngành nông nghiệp và mang lại hiệu quả kinh tế cho địa phương?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây công nghiệp lâu năm trên địa bàn tỉnh Hà Giang, tập trung vào hai loại cây trồng cụ thể là cây chè và cây cao su.
- Phạm vi không gian: Địa bàn toàn tỉnh Hà Giang, đi sâu vào các huyện trọng điểm sản xuất như Bắc Quang, Vị Xuyên, Quang Bình, Hoàng Su Phì, Xín Mần, Đồng Văn, Mèo Vạc.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và tiêu chuẩn áp dụng
Chuyên đề hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về nông nghiệp (theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp), định nghĩa và đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của cây công nghiệp lâu năm. Cây công nghiệp lâu năm được xác định là loại cây có chu kỳ kinh doanh dài, thu hoạch sản phẩm trong nhiều năm và làm nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến. Quá trình sản xuất nhóm cây này đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn, quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt từ khâu giống, canh tác, thu hái đến chế biến và yêu cầu trình độ thâm canh cao.
Về hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật đánh giá chất lượng sản phẩm, tác giả viện dẫn các văn bản quy chuẩn:
- Bộ tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10684 về tiêu chuẩn cây giống, hạt giống cây công nghiệp lâu năm (ca cao, điều, hồ tiêu, dừa).
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 9740:2013 (ISO 11287:2011) quy định yêu cầu hóa học đối với chè xanh (hàm lượng chất chiết trong nước, tro tổng số, tro tan trong nước, độ kiềm, catechin, polyphenol).
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1454:2013 (ISO 3720:2011) về chè đen.
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3769:2016 về cao su thiên nhiên SVR (quy định hàm lượng tạp chất, hàm lượng tro, nitơ, chất bay hơi).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Hà Giang giai đoạn 2015 – 2019, các báo cáo chuyên ngành của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Giang, số liệu từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và số liệu điều tra năm 2019.
- Phương pháp thống kê mô tả và so sánh: Phân tích sự biến động của diện tích gieo trồng, diện tích thu hoạch, năng suất, sản lượng búp tươi, cơ cấu vốn đầu tư và giá cả qua các năm nhằm chỉ ra xu hướng phát triển và mối quan hệ kinh tế giữa các chỉ tiêu.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Nghiên cứu bài học phát triển chè Shan tuyết tại tỉnh Lào Cai (diện tích 1.370 ha gắn với Chương trình 327) và tỉnh Yên Bái (quy mô gần 13.000 ha với thương hiệu chè Suối Giàng, Phình Hồ) để rút ra bài học cho Hà Giang.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về sự phát triển cây công nghiệp lâu năm
Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của cây công nghiệp lâu năm trong việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương.
Tác giả phân loại cây công nghiệp lâu năm theo sản phẩm (lấy dầu, lấy sợi, lấy đường, lấy nhựa, cho chất kích thích) và theo đặc tính sinh thái (nhiệt đới, cận nhiệt, ôn đới). Về chu kỳ sản xuất, cây lâu năm được phân chia thành hai giai đoạn: phân kỳ kiến thiết cơ bản (từ khi trồng đến khi cho sản phẩm) và phân kỳ kinh doanh (từ khi bắt đầu thu hoạch).
Từ việc phân tích mô hình phát triển chè Shan tuyết tại Lào Cai và Yên Bái, nghiên cứu đúc kết 6 bài học kinh nghiệm cho tỉnh Hà Giang:
- Rà soát chi tiết diện tích, đánh giá chất lượng sinh trưởng và sâu bệnh để quy hoạch vùng chuyên canh.
- Đẩy mạnh tuyên truyền về giá trị kinh tế của cây chè đối với người dân.
- Hỗ trợ vốn vay ưu đãi qua Ngân hàng Chính sách xã hội và khuyến khích xây dựng xưởng chế biến quy mô nhỏ tại thôn bản.
- Tranh thủ nguồn lực đầu tư của Nhà nước kết hợp nội lực trong nhân dân.
- Thiết lập liên kết "4 nhà", yêu cầu doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm trực tiếp.
- Tăng cường quản lý quy hoạch, ngăn chặn tình trạng phát triển tự phát làm giảm chất lượng thương hiệu.
Chương 2: Phân tích sự phát triển của cây công nghiệp lâu năm trên địa bàn tỉnh Hà Giang
1. Khái quát tình hình kinh tế và nông nghiệp tỉnh Hà Giang
Giai đoạn 2015 – 2019, nền kinh tế Hà Giang có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 10,78%, GDP ngành nông - lâm nghiệp tăng bình quân 7,7%. Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm so với mặt bằng chung cả nước khi khu vực nông - lâm - thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng chi phối (57,38% vào năm 2019).
| Chỉ tiêu cơ cấu kinh tế (%) |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
| Tổng số |
100,00 |
100,00 |
100,00 |
100,00 |
100,00 |
| Nông, lâm nghiệp và thủy sản |
60,37 |
62,43 |
62,00 |
58,05 |
57,38 |
| Công nghiệp - Xây dựng |
14,45 |
18,93 |
17,50 |
16,31 |
12,38 |
| Dịch vụ |
25,18 |
18,64 |
20,50 |
25,64 |
30,24 |
Trong nội bộ ngành nông nghiệp, trồng trọt là ngành trụ cột, chiếm 74,46% giá trị sản xuất vào năm 2019 (đạt 431.534 triệu đồng). Giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác tăng từ 11,8 triệu đồng (2015) lên 25,3 triệu đồng (2019). Vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp tăng mạnh vào năm 2016 (đạt 969.772 triệu đồng so với 258.473 triệu đồng năm 2015) do tỉnh tập trung nguồn lực đưa cây cao su vào trồng thử nghiệm. Vốn đầu tư cho trồng trọt luôn chiếm xấp xỉ 80% tổng vốn đầu tư toàn ngành nông nghiệp.
| Cơ cấu nhóm cây trồng (%) |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
| Cây lương thực có hạt |
43,77 |
41,63 |
38,65 |
34,47 |
30,56 |
| Cây công nghiệp lâu năm |
31,09 |
35,04 |
30,55 |
32,53 |
33,88 |
| Cây ăn quả |
15,02 |
15,31 |
16,22 |
18,74 |
23,13 |
| Rau, đậu, hoa, cây cảnh |
10,12 |
11,28 |
11,88 |
14,26 |
12,43 |
2. Đánh giá thực trạng cây cao su tại tỉnh Hà Giang
Từ tháng 7/2010, tỉnh Hà Giang phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam trồng thử nghiệm 10 ha cao su tại Bắc Quang và Vị Xuyên. Đến giai đoạn 2016 – 2019, diện tích trồng cao su đạt 1.514,4 ha, tập trung tại 3 huyện vùng thấp: Bắc Quang (700 ha năm 2015), Quang Bình và Vị Xuyên.
Tuy nhiên, chương trình phát triển cây cao su hoàn toàn không mang lại sản lượng trong suốt giai đoạn 2015 – 2019 (sản lượng đạt 0 tấn). Nguyên nhân chính do đặc điểm tự nhiên không phù hợp: lượng mưa quá lớn (Bắc Quang, Quang Bình đạt khoảng 4.000 mm; Vị Xuyên đạt 2.657 mm), mùa đông xuất hiện sương muối và các đợt rét đậm kéo dài (điển hình là đợt rét cuối năm 2014 - đầu 2015 làm chết hơn 459 ha; đợt rét 2017 - 2018 gây thiệt hại 80,7% diện tích cao su toàn vùng Đông Bắc; đợt rét cuối 2018 - đầu 2019 phá hủy diện tích còn lại).
Tháng 3/2019, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang đã ra quyết định tạm dừng chương trình trồng cây cao su, giao trả đất khai hoang cho người dân chuyển sang trồng cây hoa màu và chỉ duy trì theo dõi giống chịu lạnh IAN873 ở quy mô nghiên cứu.
3. Phân tích sự phát triển của cây chè tại tỉnh Hà Giang
Cây chè (đặc biệt là giống chè Shan tuyết chiếm gần 90% diện tích) là cây trồng kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Hà Giang có diện tích chè đứng thứ 3 cả nước (sau Lâm Đồng và Thái Nguyên), với tổng diện tích đạt trên 20.626 ha.
Không gian sản xuất chè của tỉnh chia thành 2 tiểu vùng rõ rệt:
- Vùng thấp (Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên, Xín Mần): Chiếm 70% diện tích và 60% sản lượng toàn tỉnh. Nương chè thâm canh đúng quy trình, năng suất bình quân đạt 70 tạ/ha.
- Vùng cao (Hoàng Su Phì, Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc): Chiếm 30% diện tích, chủ yếu là quần thể chè Shan tuyết cổ thụ mọc phân tán, mật độ thưa, năng suất bình quân 17 tạ/ha nhưng chất lượng cao.
| Chỉ tiêu ngành chè Hà Giang |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
| Diện tích trồng (ha) |
19.443,7 |
19.972,0 |
20.100,0 |
20.350,0 |
20.626,0 |
| Diện tích thu hoạch (ha) |
15.943,1 |
16.500,0 |
17.200,0 |
17.800,0 |
18.200,0 |
| Sản lượng búp tươi (tấn) |
58.520,1 |
61.200,0 |
63.400,0 |
64.800,0 |
>65.000 (9T) |
Huyện Bắc Quang và Vị Xuyên dẫn đầu toàn tỉnh về năng suất (đạt từ 1,7 đến 4,57 tấn/ha). Về phương thức nhân giống, toàn tỉnh có 420,7 ha chè bầu giâm cành (Vị Xuyên 105 ha, Xín Mần 103 ha, Quang Bình 64 ha, Yên Minh 65 ha, Bắc Quang 54,7 ha, Đồng Văn 29 ha). Tính đến năm 2019, có 7.153 ha chè đạt chuẩn VietGAP và trên 1.950 ha chè được cấp chứng nhận hữu cơ.
Toàn tỉnh có 8 công ty, 20 hợp tác xã và hơn 500 cơ sở chế biến (tiêu biểu như Công ty TNHH Hoàng Long với Nhà máy Long Trà có dây chuyền Nhật Bản 28 tấn/ngày và công nghệ Trung Quốc 15 tấn/ngày; Công ty Chè Hùng Cường xuất khẩu sang Mỹ và EU). Dù vậy, ngành chè vẫn đối mặt với khó khăn: giá thu mua búp tươi bấp bênh (5.000 – 7.000 đồng/kg), liên kết tiêu thụ lỏng lẻo và phần lớn sản phẩm vẫn xuất bán dưới dạng nguyên liệu thô.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển cây công nghiệp lâu năm
Chương 3 đề xuất định hướng phát triển cây chè giai đoạn 2020 – 2025:
- Ổn định quy mô diện tích trên 25.500 ha (trong đó diện tích kinh doanh đạt trên 20.300 ha).
- Nâng năng suất bình quân lên 50 – 60 tạ/ha, sản lượng búp tươi đạt 12 vạn tấn.
- Mở rộng diện tích chè sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP đạt 10.828,2 ha và chè hữu cơ đạt trên 6.000 ha.
Hệ thống giải pháp cụ thể được xây dựng bao gồm:
- Giải pháp kỹ thuật và khuyến nông: Đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật canh tác, bắt buộc sử dụng giống chè bầu giâm cành thay thế phương pháp gieo hạt truyền thống; áp dụng quy trình chăm sóc hữu cơ cho vùng chè cổ thụ.
- Giải pháp chế biến và mở rộng thị trường: Xây dựng nhà máy tinh chế chè xuất khẩu công suất trên 5.000 tấn sản phẩm/năm; xây dựng mới các nhà máy chế biến chè xanh, chè đen công suất 15 tấn búp tươi/ngày tại Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình, Hoàng Su Phì; hỗ trợ các xưởng chế biến quy mô 3 – 5 tấn/ngày tại vùng nguyên liệu phân tán.
- Cơ chế, chính sách hỗ trợ:
- Chính sách ruộng đất: Đẩy nhanh tiến độ giao đất lâu dài, cấp quyền chuyển nhượng, thế chấp để người dân an tâm quy hoạch nương chè tập trung.
- Chính sách tín dụng: Thực hiện cho vay không lãi suất trong 5 năm đầu thời kỳ kiến thiết cơ bản theo Nghị quyết số 12/2009/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Hà Giang; hỗ trợ lãi suất ưu đãi cho cơ sở cung ứng giống, vật tư và chế biến.
- Chính sách liên kết và thu hút đầu tư: Ràng buộc trách nhiệm xây dựng vùng nguyên liệu của doanh nghiệp chế biến qua hợp đồng bao tiêu; hỗ trợ đăng ký chỉ dẫn địa lý và bảo hộ nhãn hiệu chè Shan tuyết Hà Giang.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại hệ thống dữ liệu thực chứng và các kết luận quản lý quan trọng:
- Đánh giá toàn diện bức tranh chuyển dịch cơ cấu cây trồng tỉnh Hà Giang giai đoạn 2015 – 2019, chỉ ra sự chuyển dịch tỷ trọng cây công nghiệp lâu năm lên mức 33,88% trong tổng diện tích cây trồng.
- Cung cấp số liệu chi tiết chứng minh sự không phù hợp của cây cao su tại địa bàn Đông Bắc (1.514,4 ha không cho sản lượng do thời tiết rét đậm, sương muối), làm cơ sở thực tiễn ủng hộ quyết định dừng triển khai chương trình cao su của tỉnh vào tháng 3/2019.
- Xác lập vai trò kinh tế trụ cột của cây chè Shan tuyết (đạt trên 20.626 ha, sản lượng trên 65.000 tấn búp tươi), phân tích sự khác biệt năng suất giữa hai vùng sinh thái (vùng thấp 70 tạ/ha so với vùng cao 17 tạ/ha).
- Đề xuất khung giải pháp đồng bộ gắn kết "4 nhà", chuyển dịch phương thức nhân giống từ gieo hạt sang giâm cành và ứng dụng tiêu chuẩn VietGAP/hữu cơ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đề tài sử dụng chủ yếu nguồn số liệu thứ cấp giai đoạn 2015 – 2019 từ niên giám thống kê và báo cáo ngành, chưa thực hiện khảo sát xã hội học định lượng sâu trên mẫu hộ nông dân về chi phí - lợi nhuận (C/B) cụ thể của từng mô hình trồng chè.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi việc chuyển đổi diện tích đất sau khi dừng dự án cao su sang trồng hoa màu; nghiên cứu sâu chuỗi giá trị và liên kết thị trường xuất khẩu chính ngạch cho thương hiệu chè Shan tuyết hữu cơ giai đoạn sau năm 2020.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên các ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế và Quản lý đô thị, Quản lý tài nguyên & Nông nghiệp trong việc nghiên cứu mô hình phát triển cây công nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Cán bộ quản lý tại các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh miền núi phía Bắc trong công tác thẩm định dự án thử nghiệm cây trồng mới và quy hoạch vùng chuyên canh chè đặc sản.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao diện tích trồng cao su tại Hà Giang đạt hơn 1.500 ha nhưng sản lượng thu hoạch giai đoạn 2015 – 2019 lại bằng 0?
Cây cao su là giống cây xứ nóng, khi đưa lên vùng Đông Bắc như Hà Giang đã gặp điều kiện thời tiết khắc nghiệt, lượng mưa quá lớn (2.657 – 4.000 mm) và các đợt rét đậm kèm sương muối kéo dài (đặc biệt vào mùa đông các năm 2014, 2017, 2018) làm chết hàng loạt vườn cây, dẫn đến không thể đưa vào khai thác mủ.
2. Quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang vào tháng 3/2019 đối với chương trình cây cao su là gì?
Tỉnh ủy đã quyết định tạm dừng triển khai chương trình phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh; chuyển giao giống Vân Nghiên 77-4 cho đơn vị khác; chỉ theo dõi nghiên cứu giống IAN873 chịu lạnh và thống nhất bàn giao lại đất cho người dân trồng hoa màu để bảo đảm sinh kế.
3. Vì sao huyện Xín Mần có diện tích trồng chè nhỏ hơn Hoàng Su Phì nhưng sản lượng chè búp tươi lại cao hơn?
Người dân huyện Xín Mần (chủ yếu là dân tộc Tày) trồng giống chè Trung Du theo từng đồi thâm canh tập trung, mật độ cao nên cho năng suất lớn. Trong khi đó, người dân huyện Hoàng Su Phì (chủ yếu là dân tộc Nùng) canh tác giống chè Shan tuyết cổ thụ mọc phân tán, mật độ thưa tự nhiên và địa bàn thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi sạt lở đất.
4. Mức giá thu mua chè nguyên liệu búp tươi tại Hà Giang trong giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu?
Giá thu mua chè búp tươi bình quân ở mức 7.000 đồng/kg; vào các thời điểm thu hoạch rộ, giá giảm xuống mức 5.000 đồng/kg, gây ảnh hưởng tiêu cực đến động lực chăm sóc và thu hái của người dân.
Kết luận
Chuyên đề tốt nghiệp đã phân tích toàn diện thực trạng phát triển cây công nghiệp lâu năm tại tỉnh Hà Giang giai đoạn 2015 – 2019, làm rõ sự tương phản giữa bài học thất bại của việc đưa cây cao su vào trồng thí điểm và tiềm năng kinh tế to lớn của cây chè Shan tuyết bản địa. Kết quả nghiên cứu khẳng định cây chè là cây trồng mũi nhọn trong công tác xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của địa phương. Hệ thống định hướng và giải pháp đề xuất về giao đất, vốn tín dụng ưu đãi theo Nghị quyết số 12/2009/NQ-HĐND và phát triển chuỗi giá trị chế biến xuất khẩu có giá trị ứng dụng thiết thực cho phát triển nông nghiệp bền vững tại Hà Giang.