ĐẶT VẤN ĐỀ Lựa chọn sinh cảnh ở động vật hoang dã là chỉ sự lựa chọn hoặc sở thích của loài động vật với kiểu địa điểm sinh sống (dạng sinh cảnh). Hiển nhiên, mọi loài động vật đều chỉ có thể sinh sống ở trong phạm vi không gian nhất định của môi trƣờng; quần thể loài lựa chọn hay không lựa chọn một sinh cảnh nào đó để sinh sống phụ thuộc vào sinh cảnh đó có đầy đủ hay thiếu hụt nguồn tài nguyên đáp ứng nhu cầu của chúng. Dƣới quan điểm của động vật hoang dã, các nguồn tài nguyên đó bao gồm: thức ăn, nguồn nƣớc, nơi ẩn nấp, nơi sinh sản,.; nếu các yếu tố này trong sinh cảnh không đầy đủ sẽ mang đến nhiều bất tiện cho loài, chúng sẽ phải tiêu tốn quá nhiều năng lƣợng để tìm kiếm các nguồn tài nguyên này, từ đó mà ảnh hƣởng đến năng lực sinh sản và sinh tồn của chúng (Shang Y C, 2001). Bởi vậy, việc nghiên cứu phân tích sinh cảnh sống của một quần thể động vật hoang dã nào đó có ý nghĩa thực tiễn cho công tác bảo tồn loài.
Gấu ngựa (Ursus thibetanus Cuvier, 1823) là loài thú quý hiếm, có giá trị bảo tồn cao. Sách Đỏ Việt Nam- 2007, xếp loài ở mức Nguy cấp (EN); còn danh lục đỏ của IUCN-2018, lại xếp ở mức Sắp nguy cấp (VU). Gấu ngựa cũng đƣợc pháp luật bảo vệ; loài có tên trong phụ lục I CITES và thuộc nhóm Ib Nghị định 06/2019/NĐ-CP. Gấu ngựa có vùng phân bố rộng trong lục địa Châu Á; tại Việt Nam, loài phân bố rộng ở nhiều tỉnh từ Lâm Đồng trở ra Bắc (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009).
Đến nay, số lƣợng các nghiên cứu về quần thể Gấu ngựa trong môi trƣờng hoang dã ở Việt Nam là không nhiều; nội dung chủ yếu tập trung vào hiện trạng phân bố (Crudge B, et all, 2016a), tình trạng quần thể và kiến nghị bảo tồn (Nguyen Xuan Dang, 2006; Scotson L, 2009; Crudge B, et all, 2016b), tính thực và hành vi kiếm ăn (Lê LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Hiền Hào, 1972); chƣa có báo cáo nào tiếp cận nghiên cứu để phân tích sinh cảnh sống của Gấu ngựa. Vì lẽ đó tôi đã lựa chọn đề tài luận văn “Phân tích sinh cảnh sống của Gấu ngựa (Ursus thibetanus Cuvier, 1823) tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa”. Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp căn cứ khoa học cho các biện pháp khống chế sinh cảnh để bảo tồn nguồn gen Gấu ngựa tại đây; đồng thời bổ sung thông tin về đặc điểm sinh thái học của loài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái quát đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính của Gấu ngựa Gấu ngựa (Ursus thibetanus) là loài thú ăn thịt lớn; con trƣởng thành có dài thân: 120-170cm, dài đuôi: 6-10cm, dài bàn chân sau: 17-19cm, cao tai: 11-18cm, thể trọng: 80-180kg. Thân thô béo, trán rộng, tai tròn. Chân trƣớc và chân sau có 5 ngón; vuốt khỏe nhọn và cong. Bộ lông dài thô màu đen tuyền, lông hai bên cổ dài tạo thành bờm.
Ngực có yếm hình chữ V màu vàng nhạt hoặc trắng; đám trắng trƣớc mõm không vƣợt quá mắt (Gấu chó có yếm ngực hình chữ U màu vàng nhạt; đám trắng trƣớc mõm vƣợt quá mắt). Đuôi rất ngắn, không thò ra khỏi bộ lông (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Bất cứ ở đâu, sự hoạt động của Gấu ngựa cũng để lại những dấu vết dễ nhận biết hơn so với nhiều loài thú ăn thịt khác. Khi hoạt động ở mặt đất, Gấu để lại những vết chân khá rõ; vết chân Gấu ngựa tƣơng tự nhƣ vết chân ngƣời, nhƣng có kích thƣớc lớn hơn rõ rệt, nhất là nửa bàn chân phía trƣớc; các vết vuốt chân cũng in lại rất rõ.
Đồng thời trong lúc gấu đi, vết của bàn chân sau thƣờng đặt trùng lên vết của bàn chân trƣớc cùng bên, nhƣng hơi lùi về phía sau một chút. Khi Gấu tìm kiếm thức ăn trên cây; nó sẽ để lại những vết vuốt chân trên mặt vỏ thân cây, hoặc những cành cây nhỏ bị bẻ quặt, tụm lại nhƣ ổ. Ở Gấu ngựa: kích thƣớc vết chân trƣớc không lớn hơn bao nhiêu so với vết chân sau; trong khi Gấu chó có vết chân trƣớc lớn hơn vết chân sau rõ rệt, dấu vuốt để lại cũng rõ ràng hơn Gấu ngựa (do độ cong của vuốt lớn hơn, gốc vuốt lại ít lông mao). Đồng thời trong lúc Gấu ngựa đi, vết của bàn chân sau thƣờng đặt trùng lên vết của bàn chân trƣớc cùng bên (hơi lùi về phía sau một chút); trong khi vết của bàn chân sau và bàn chân trƣớc của Gấu chó không trùng nhau.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. So sánh hình thái ngoài và đặc điểm dấu chân - vuốt giữa Gấu ngựa với Gấu chó (Nguồn: Identification sheets for Wildlife species traded in Southeast Asia) Nơi sống thích hợp của Gấu ngựa là các khu rừng già núi đất nhƣng phân bố xen kẽ với các khối đá vôi. Chỗ ở và nơi trú ẩn của Gấu ngựa là những hang hốc tự nhiên trên sƣờn núi đá vôi, phía trƣớc cửa hang thƣờng có các khóm cây bụi hoặc tảng đá lớn che khuất. Gấu ngựa kiếm ăn ban ngày; sống đơn độc, trừ thời kỳ động dục hoặc gấu cái nuôi con (Lê Hiền Hào, 1972).
Lƣợc sử nghiên cứu về loài Gấu ngựa trong môi trƣờng hoang dã ở Việt Nam và tại KBTTN Pù Luông Các nghiên cứu liên quan đến Gấu ngựa (Ursus thibetanus) ở Việt Nam, thƣờng đƣợc tiến hành khảo sát chung cho nhóm thú nguy cấp, quý hiếm. Đến nay chỉ có 01 báo cáo về hiện trạng phân bố của Gấu hoang dã (Gấu ngựa và Gấu chó) đƣợc điều tra, khảo sát trên quy mô toàn quốc (Crudge et al., 2016); còn lại có một số báo cáo khảo sát trong phạm vi hẹp tại một số Vƣờn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên đƣợc quan tâm nhƣ: VQG Cát Tiên (Scotson et al., 2009; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Crudge et al. Về báo cáo thực trạng phân bố của Gấu hoang dã (trong đó có Gấu ngựa) trên phạm vi toàn quốc của Crudge và cộng sự năm 2016; các tác giả đã lựa chọn 22 khu bảo tồn (bao gồm 10 VQG, 10 khu bảo tồn thiên nhiên, 01 khu bảo tồn thiên nhiên đang đƣợc đề xuất, 01 khu bảo tồn loài & sinh cảnh) làm địa điểm khảo sát trọng tâm. Các khu vực đƣợc lựa chọn bao phủ tổng diện tích 11.862 km2 và đại diện cho khoảng 50% rừng đặc dụng của Việt Nam.
Với phƣơng pháp điều tra chủ đạo là phỏng vấn theo bảng câu hỏi đƣợc thiết kế sẵn; nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn 1441 ngƣời dân ở 106 bản làng xung quanh 22 khu bảo tồn. Kết quả cho thấy; đa số (77%) tin rằng gấu vẫn còn trong khu vực rừng địa phƣơng, ngƣời dân ở 20/22 khu bảo tồn giám chắc chắn sự tồn tại của Gấu; đại đa số ngƣời đƣợc phỏng vấn (98%) cho rằng số lƣợng Gấu hoang dã bắt đầu giảm nhanh từ khoảng 20 năm trƣớc (khoảng 1995) do nạn săn bắt và đặt bẫy. Một số ngƣời đƣợc phỏng vấn tin rằng gấu đã không còn ở địa phƣơng trong những năm 1995-2005. Những hình ảnh từ bẫy ảnh đã xác định sự hiện diện của Gấu ngựa ở một số địa điểm và bằng chứng về sự tồn tại của Gấu cũng đƣợc khẳng định qua dấu vết của hoạt động săn bắt chúng.
Tuy nhiên, những cá thể gấu đƣợc phát hiện qua bẫy ảnh hoặc bị bắt bởi những kẻ săn trộm những năm vừa qua, có thể là những cá thể cuối cùng còn sót lại. Ngoại trừ KBT Sao la và KBTTN Sông Thanh (tỉnh Quảng Nam) có nhiều dữ liệu cho thấy là khu vực tốt cho Gấu hoang dã; các khu vực khảo sát còn lại không thấy nhiều triển vọng cho công cuộc bảo tồn gấu hoang dã. Về hiện trạng phân bố của Gấu ngựa trong báo cáo điều tra động vật rừng quý hiếm tại một số Khu bảo tồn/Vƣờn quốc gia đã liệt kê ở trên; dung lƣợng liên quan đến Gấu ngựa không nhiều; nội dung chủ yếu tập trung vào đặc trƣng phân bố tài nguyên Gấu ngựa (bản đồ phân bố các điểm ghi nhận Gấu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ngựa và dấu vết của chúng), mối đe dọa và kiến nghị bảo tồn. Chƣa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích đặc trƣng sinh cảnh sống của loài.
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông đƣợc thành lập nhằm bảo tồn hệ sinh thái và các loài động, thực vật đặc trƣng cho khu vực núi đá vùng thấp Bắc Việt Nam. Không chỉ có giá trị đa dạng sinh học, Pù Luông còn là một trong những khu rừng phòng hộ xung yếu cho lƣu vực sông Mã. Những điều tra, nghiên cứu chi tiết về tài nguyên động thực vật ở KBTTN Pù Luông và vùng phụ cận bắt đầu đƣợc thực hiện trong các năm 1997 và 1998 với mục đích xây dựng dự án đầu tƣ thành lập khu bảo tồn. Trong các đợt khảo sát tài nguyên này, loài Gấu ngựa (Ursus thibetanus) đƣợc ghi nhận qua dấu vết (Lê Trọng Trải và Đỗ Tƣớc, 1998).
Năm 2003, các chƣơng trình điều tra đa dạng sinh học đƣợc bắt đầu tại khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên trong khuôn khổ Dự án bảo tồn cảnh quan đá vôi Pù Luông - Cúc Phƣơng, đƣợc thực hiện bởi Tổ chức FFI - Chƣơng trình Việt Nam. Các đợt điều tra chi tiết đã hoàn tất danh lục loài các nhóm thực vật, thú, cá, bƣớm, thân mềm và các loài không xƣơng sống trong hang động. Đã ghi nhận thêm nhiều loài thú mới nâng tổng số loài thú của khu vực lên 84 loài (tính cả nhóm Dơi), Gấu ngựa đƣợc ghi nhận qua phỏng vấn ngƣời dân, quan sát trực tiếp và dấu chân ngoài tự nhiên (Đặng Ngọc Cần, 2004). Trong những năm tiếp theo các đợt điều tra tập trung vào nhóm thú linh trƣởng và chim, các loài thú ăn thịt không có báo cáo điều tra.
Năm 2012-2013, trong Dự án điều tra lập danh lục khu hệ động thực vật rừng KBTTN Pù Luông, đƣợc thực hiện bởi liên danh Viện sinh thái& bảo vệ công trình và Trƣờng Đại học khoa học tự nhiên đã xây dựng danh lục loài các nhóm thực vật, động vật nổi, động vật đáy, cá, côn trùng, chim, thú, lƣỡng cƣ và bò sát; Gấu ngựa đƣợc liệt kê trong danh lục thú. Tuy nhiên, độ tin cậy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 của thông tin khá thấp, bởi chỉ thông qua phỏng vấn ngƣời dân địa phƣơng (Trịnh Văn Hạnh và cộng sự, 2013).