chương 1 bao gồm việc trình bày: Lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và Mô hình nghiên cứu Nội dung chương 2 bao gồm việc trình bày: Cơ sở lý luận liên quan đến nghiên cứu, lược khảo một số nghiên cứu liên quan, chọn lựa tiêu chí, đưa ra mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nội dung chương 3 bao gồm việc trình bày: Mô tả phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng, thực hiện các thao tác tính toán, kiểm định kết quả tính toán. Chướng 4: Phân tích kết quả nghiên cứu và thảo luận Đưa ra kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và một số kiến nghị Đưa ra các kiến nghị dựa trên các rủi ro ưu tiên đã xác định, nêu hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Tác giả trình bày lý do chọn đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu chung và cụ thể, câu hỏi nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu để từ đó tạo tiền đề, để đề tài nghiên cứu được thực hiện một cách tuần tự có hệ thống thông qua kết cấu 5 chương của luận văn, đồng thời nêu ra được ý nghĩa của nghiên cứu. 9 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Các khái niệm có liên quan 2.1 Chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng là một mạng lưới toàn cầu dùng để phân phối hàng hóa dịch vụ từ nguyên liệu thô đến khách hàng thông qua việc thiết kế dòng chảy về thông tin, kênh vật lý, và dòng tiền. Khái niệm mạng lưới toàn cầu ở đây được hiểu là toàn bộ chuỗi cung ứng hon là một đối tượng cụ thể trong chuỗi (Nguyễn Doanh Hùng, 2022). Những hoạt động co bản trong một chuỗi cung ứng gồm những công việc từ cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, gia công sản phẩm, phân phối sản phẩm, đến hoạt động bán hàng và các dịch vụ sau bán hàng.
Các hoạt động cơ bản này trực tiếp liên quan đến hoạt động chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp, nó tạo ra giá trị sử dụng của sản phẩm và đưa sản phẩm đến với người sử dụng. Hoạt động hậu cần đầu vào liên quan đến việc tiếp nhận, lưu kho và đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất. Hoạt động sản xuất liên quan đến quá trình chế biến nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng. Hoạt động hậu cần đầu ra liên quan đến tiếp nhận, lưu kho và phân phối thành phẩm đến nơi tiêu thụ.
Hoạt động marketing và bán hàng liên quan đến việc tạo ra những phương thức và khuyến khích người mua. Dịch vụ sau bán hàng liên quan đến các hoạt động nhằm duy trì hoặc tăng cường giá trị của sản phẩm (Nguyễn Thành Long và Phạm Xuân Giang, 2017). Nghiên cứu của Chopra Sunil và Peter Meindl (2001), cho rằng chuỗi cung ứng bao gồm những công đoạn có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp mà còn là nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và cả khách hàng.
Với tác giả thì Chuỗi cung ứng là hệ thống những hoạt động để biến nguồn nguyên liệu thô thành sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Còn nếu nói rộng hơn thì Chuỗi 10 cung ứng có thể gồm hai hay nhiều chuỗi cung ứng con kết nối với nhau một cách chặt chẽ.2 Các thành phần chuôi cung ứng Theo nghiên cứu của Chow và Cộng sự (2008), thì một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh được cấu thành từ nhiều bộ phận khác nhau. Những bộ phận đó hoạt động một cách đồng bộ, để đưa sản phẩm đến khách hàng cuối cùng từ mắt xích đầu tiên là nhà cung cấp nguyên liệu thô. Một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh bao gồm có 6 thành phần: Nhà cung cấp nguyên liệu thô, nhà sản xuất, nhà phân phối, đại lý bán lẻ, khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ.
Nhà cung cấp nguyên liệu thô: Đây là đon vị cung cấp nguyên liệu thô dùng để sản xuất sản phẩm hoàn thiện. Nhà cung cấp nguyên liệu thô đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng, vì đây là mắt xích đầu tiên của cả chuỗi cung ứng. Nhà sản xuất: Nhà sản xuất là đon vị sản xuất sản phẩm hoàn thiện từ nguyên liệu thô. Nhà sản xuất đóng vai trò mấu chốt trong việc chuyển đổi nguyên liệu thô thành sản phẩm hoàn thiện.
Nhà phân phối: Sau khi có được sản phẩm hoàn thiện, nhà phân phối sẽ đảm nhận trọng trách phân phối các sản phẩm đến các đại lý bán lẻ. Nhà phân phối đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự kết nối giữa nhà sản xuất và đại lý bán lẻ. Đại lý bán lẻ: Đây là đon vị đưa sản phẩm hoàn thiện đến vói khách hàng cuối cùng. Đại lý bán lẻ sẽ mua sản phẩm từ nhà phân phối hoặc nhà sản xuất và bán lẻ cho từng khách hàng.
Các đại lý bán lẻ bao gồm các cửa hàng tiện lọi, chợ, trung tâm thưong mại, siêu thị và tạp hóa. Khách hàng: Đây là người cuối cùng sử dụng sản phẩm hoàn thiện. Khách hàng có thể mua sản phẩm trực tiếp từ đại lý bán lẻ hoặc qua các kênh bán hàng khác như trực tuyến hoặc trực tiếp từ nhà sản xuất nếu sản phẩm được bán trực tiếp. 11 Nhà cung cấp dịch vụ: Đây là nhà cung cấp các giải pháp và/hoặc dịch vụ giao hàng, công nghệ thông tin, các dịch vụ tiện ích khác.
cho người dùng (có thể là cá nhân hoặc tổ chức). Việc tạo dưng mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối là rất quan trọng, việc tăng cường giao tiếp, tương tác cá nhân, thăm viếng thường xuyên và cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà phân phối, xây dựng được mối quan hệ tốt sẽ cải thiện sự hợp tác trong chuỗi cung ứng cung như nâng cao hiệu quả kinh doanh (Hồ Thanh Phong và Trần Văn Khoát, 2018). Sự trưởng thành của chuỗi cung ứng đề cập đến mức độ tích hợp và phối hợp với các đối tác cung ứng so với mức độ của các chuỗi cung ứng cạnh tranh. Các doanh nghiệp phải cạnh tranh quyết liệt từ những yếu tố đầu vào đến quá trình phân phối sản phẩm đầu ra, nhằm chinh phục khách hàng và chiếm lĩnh thị phần.
Trong quá trình đó, khả năng đáp ứng của chuỗi cung ứng là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại, phát triển ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (Nguyễn Thành Long và Phạm Xuân Giang, 2017).3 Cấu trúc chuôi cung ứng Có 2 loại cấu trúc của chuỗi cung ứng: cấu trúc đơn giản và cấu trúc mở rộng. Theo Alvarez và Diaz (2011), với cấu trúc chuỗi cung ứng đơn giản, thì chuỗi cung ứng đó sẽ bao gồm 3 thành phần gồm: Nhà cung cấp nguyên liệu thô, Nhà sản xuất sản phẩm và Khách hàng.1 Sơ đồ cấu trúc chuỗi cung ứng đơn giản Nguồn: Alvarez và Diaz (2011) 12 Theo Sukru Anil Toygar (2016), với cấu trúc chuỗi cung ứng mở rộng, thì chuỗi cung ứng đó sẽ bao gồm ố thành phần gồm: Nhà cung cấp nguyên liệu thô, Nhà sản xuất sản phẩm, Nhà phân phối, Đại lý bán lẻ, Khách hàng và Nhà cung cấp dịch vụ.2 Sơ đồ cấu trúc chuỗi cung ứng mở rộng Nguồn: Sukm Anil Toygar (2016) 2.4 Chuỗi cung úng thục phẫtn 2. ỉ Thực phẩm Một nghiên cứu của Messer (2007), về định nghĩa và ranh giới thực phẩm: Hạn chế ăn uống và bản sắc con nguời, cho rằng thực phẩm là những loại thức ăn mà con nguòi có thể ăn và uống đuợc để nuôi duỡng cơ thể. Theo Linh Trang (2023), thì thực phẳm là tên gọi chung dùng để chỉ những vật phẩm thiết yếu, bao gồm những chất nhu: chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit), chất đạm (protein) hoặc nuớc.
Đây là những chất cơ bản để duy trì sự tồn tại của con nguời, đuợc con nguời tiêu thụ trực tiếp thông qua hoạt động ăn hoặc uống. Thực phẳm là các loại thức ăn mà con nguòi hoặc động vật có thể ăn hay uống đuợc để cung cấp các chất dinh du ồng nhằm nuôi duỡng cơ thể hay sử dụng là vì sở thích, nó có thể nói thực phẳm (hay thức ăn) là sản phẳm chứa: chất bột (carbohydrate), chất béo (lipid), chất đạm (protein),. mà con nguời có thể ăn hay 13 uống được nhằm cung cấp các chất dinh dưỡng cho cơ thể. Ví dụ: Thịt, cá, trứng, rau, củ, quả, bánh mì, sữa, nước.
Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản. Với sự phát triển của thời đại hiện nay, thực phẩm có thể là những viên nan, thực phẩm chức năng, giúp con người duy trì sự sống. Theo Linh Trang (2023), thì thực phẩm được phân loại như sau: - Theo nguồn gốc. + Thực phẩm có nguồn gốc động vật: ví dụ như cá, thịt lợn, thịt gà, thịt bò,.
+ Thực phẩm có nguồn gốc thực vật: như rau, củ, quả, hạt,. + Một số thực phẩm không phải từ nguồn động vật hoặc thực vật bao gồm các loại nấm ăn được, đặc biệt là nấm lớn, đồ uống có cồn, các chất vô cơ như muối, baking soda,. - Theo mức độ quan trọng trong các bữa ăn hàng ngày. + Thực phẩm chính: lúa, ngô, khoai, sắn, bột mì, bột gạo,.
+ Thực phẩm phụ: trái cây, bánh kẹo, nước ngọt,. - Theo chức năng, tính chất của thực phẩm'. + Thực phẩm đã qua chế biến: là những thực phẩm đã chịu ảnh hưởng của một trong số hoặc nhiều hơn các quá trình sau: đông lạnh, đóng hộp, làm khô hay chịu các tác động của nhiệt như: chiên, xào, nướng,. + Thực phẩm chay: là món ăn không sử dụng thịt của các loài động vật để chế biến, như rau củ, các loại hạt, các loại đậu, nấm,.
+ Thực phẩm chức năng: là những thực phẩm được thêm các thành phần mới hoặc nhiều thành phần hiện có để thực hiện một chức năng bổ sung. + Thực phẩm đông lạnh: là một trong những cách bảo quản thực phẩm phổ biến. 14 Phương pháp bảo quản này có thể làm chậm quá trình phân hủy của thực phẩm và ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây hư hỏng. Ví dụ: thịt heo, bò, gà đông lạnh, hải sản đông lạnh,.
+ Thực phẩm tươi sống: là thực phẩm chưa được bảo quản, chưa qua chế biến và đặc biệt là chưa hư hỏng. Chúng được hiểu là thực phẩm chưa qua các quá trình xử lý như: hun khói, lên men, muối chua, đóng hộp,.