Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRÊN LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI 1. Quan hệ quốc tế Phân tích cụm từ quan hệ quốc tế (International Relations) trên góc độ ngữ nghĩa, quan hệ (Relations) là những hành vi có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến chủ thể khác. Yêu cầu quan trọng để thiết lập quan hệ giữa hai bên chính là phải có hai chủ thể quan hệ trở lên.
Điều này có nghĩa rằng, để cấu thành lên một mối quan hệ, 2 chủ thể cần phải gây tác động và bị tác động. Nếu hai chủ thể này thuộc hai quốc gia khác nhau thì tác động giữa chúng mang tính quốc tế (International) và quan hệ giữa các chủ thể đó được gọi là quan hệ quốc tế. Các học giả trên thế giới đã đưa ra nhiều khái niệm về quan hệ quốc tế. Người được cho là cha đẻ của khái niệm quan hệ quốc tế là Jeremy Bentam (1748 - 1832) - một nhà tư tưởng người Anh.
Theo ông, quan hệ quốc tế chính là sự giao tiếp giữa các quốc gia. Kể từ thời điểm đó tới nay, rất nhiều các học giả đến từ nhiều trên thế giới như Raymond Aron của Pháp, Sakhnazarov G. của Liên Xô, Graham Evans và Jeffrey Newnham của Anh. đã đưa ra thêm rất nhiều khái niệm khác về quan hệ quốc tế, nhưng những khái niệm này đều không phản ánh được hoàn toàn đặc điểm cũng như tính chất của quan hệ quốc tế.
Lý do chính là bởi quan hệ quốc tế ngày nay là một sân chơi rộng lớn về cả quy mô và mức độ với sự tham gia của nhiều loại hình chủ thề về các lĩnh vực và vấn đề khác nhau. Chính bởi điều bày, mà nội dung và tính chất của quan hệ quốc tế ngày nay đã bị thay đổi đáng kể. Đặt nền tảng lý thuyết trong tình hình thực tế hiện nay, ta có thể đưa ra khái niệm quan hệ quốc tế như sau: “Quan hệ quốc tế là sự tương tác qua biên giới giữa các chủ thể quan hệ quốc tế”. Theo đó, quan hệ quốc tế chính là sự tương tác giữa các chủ thể quan hệ quốc tế.
8 Tương tác là tác động qua lại có tính hai chiều, trong đó hai chủ thể sẽ cùng tác động và phản ứng lại lẫn nhau. Các tác động này có thể được hiểu là hành động mang lại ảnh hưởng quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các chủ thể. Lấy ví dụ về hành động trực tiếp là việc hai quốc gia thiết lập quan hệ ngoại giao hoặc quan hệ thương mại song phương với nhau. Ảnh hưởng gián tiếp là khi các biến động trong tình hình quan hệ đối nội của nước này khiến nước kia cảm thấy quan hệ song phương bị đe doạ và chuẩn bị cho mình phản ứng điều chỉnh.
Khi các tác động này diễn ra ngoài phạm vi lãnh thổ của quốc gia thì lúc đó tác động này mang tính quốc tế. Đây là một khái niệm này tương đổi mở về mặt chủ thể, bởi thay vì việc chỉ nhắc đến các quốc gia tham gia vào quan hệ quốc tế như nhiều khái niệm trước kia thì khái niệm đã bao gồm tất cả loại hình chủ thể quan hệ quốc tế. Điểm mới này cũng đáp ứng được yêu cầu của hệ thống lý thuyết quan hệ quốc tế, vốn từ trước đó đã chưa có khái niệm thống nhất về chủ thể quan hệ quốc tế. Quan hệ song phương trên lĩnh vực thương mại Quan hệ song phương được cụ thể hóa bằng các hiệp định song phương mà nổi bật là hiệp định thương mại song phương (Free Trade Agreement - FTA).
Những hiệp định này đặt mục tiêu phát triển quan hệ thương mại bền chặt với các đối tác tiềm năng, từ đó đạt được những lợi ích kinh tế và chính trị lâu dài. Đặc biệt, các hiệp định thương mại song phương mang nặng màu sắc chính trị giữa hai bên ký kết và là công cụ để mặc cả. Bởi vậy nó không chỉ được ký kết với hai đối tác thương mại gần nhau về vị trí địa lý, mà cả các đối tác xa nhau về địa lý trên nguyên tắc dành cho nhau những ưu đãi hơn hẳn so với khuôn khổ của các hiệp định đa phương, khu vực. Hơn nữa, hiệp định thương mại song phương được xem là sự cần thiết khi thương mại đa biên chưa có hiệu lực, khi hạn chót hạ thấp hàng rào thuế quan cả gói chưa được ấn định.
Đối với các nước đang phát triển, các hiệp định thương mại song phương cũng tạo động lực cạnh tranh và cải cách thể chế; tạo xung lực trong thị 9 trường nội địa, nhờ đó giá cả hàng hóa giảm và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Tuy đi hơi ngược với mục tiêu của thương mại đa phương là tạo ra sự thống nhất của thương mại toàn cầu nhưng các hiệp định thương mại song phương vẫn tiếp tục hình thành ở khắp nơi. Ưu thế của các hiệp định thương mại song phương là hình thành thêm các đồng minh kinh tế và chính trị, khai thác tối đa những cơ hội mở rộng thương mại tự do, cơ hội ngoại giao sang các vùng lãnh thổ khác nhờ việc dành cho mỗi bên đối tác một số đặc quyền ưu đãi thuận lợi hơn so với điều kiện của Tổ chức Thương mại Thế giới. Sự bùng nổ của các hiệp định thương mại song phương phản ánh tính hai mặt của hợp tác kinh tế và nền thương mại toàn cầu, một bên là tự do hóa và bên khác là bảo hộ; xung đột lợi ích giữa các đối tác thương mại và xung đột gay gắt hơn về lợi ích thương mại và đầu tư giữa nước giàu và nước nghèo.
Từ năm 2003 trở đi, nhịp độ tăng số các hiệp định song phương được ký kết khoảng 15% mỗi năm. Từ năm 1995, khi Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại chuyển thành Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization - WTO) đến nay đã có hơn 300 hiệp định thương mại song phương được ký kết dưới nhiều hình thức khác nhau. Đến đầu năm 2006, giá trị thương mại từ các hiệp định thương mại song phương song phương và khu vực đã chiếm tỷ trọng 50% trao đổi thương mại quốc tế đến năm 2010 tỷ lệ đó là khoảng 65%. Hiện nay các hiệp định thương mại song phương song phương và khu vực đã diễn ra rộng khắp ở hầu hết các khu vực trên thế giới, nổi bật là khu vực Đông Á.
Hầu hết các nước lớn đều đàm phán và ký kết hiệp định thương mại song phương với khu vực này. Mỹ đang xúc tiến ký kết hiệp định thương mại song phương với một số nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations - ASEAN) để hình thành mạng lưới hiệp định thương mại song phương song phương với tùng nước, còn Nhật Bản đang xúc tiến ký kết hiệp định thương mại song phương với cả ASEAN, Trung Quốc lại tiến 10 hành ký kết hiệp định khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN, sau đó mới ký kết hiệp định thương mại song phương song phương với từng nước. Các hiệp định thương mại song phương song phương không mâu thuẫn với các nguyên tắc của hiệp định đa phương. Cam kết song phương thường dễ dàng thông qua, nhưng các yêu cầu đặt ra lại cao, thúc đẩy mở cửa thị trường sớm và cam kết tự do hóa toàn diện hơn.
Mặc dù có một số trở ngại, hiệp định thương mại song phương song phương đang được nhiều nước, kể cả các nước đang phát triển ưa chuộng. Về nguyên tắc, mọi cuộc đàm phán phải hài hòa lợi ích của hai bên, tuy nhiên các nước phát triển hơn, độ mở của thị trường lớn hơn thì được hưởng nhiều hơn. Đó là chưa kể một số trường hợp các nước phát triển tận dụng lợi thế để áp đặt một số điều kiện bất lợi cho các nước kém phát triển. Các tiến trình hội nhập song phương, khu vực đều cùng một hướng, cùng một mục tiêu với tự do hóa thương mại đa phương.
Đây là sự kết hợp giữa các lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích cục bộ và lợi ích toàn cục, để cuối cùng các nước đều là thành viên trong hệ thống thương mại toàn cầu công bằng hơn. Hiệp định thương mại song phương có thể giảm nỗ lực của thỏa thuận đa phương, nhưng không loại trừ tiến trình đa phương, trái lại nó thúc đẩy việc nối lại các vòng đàm phán đa phương đã bị thất bại. Thương mại quốc tế 1. Khái niệm Thương mại quốc tế là một hoạt động kinh tế từ lâu đời nhưng chỉ thực sự bùng nổ trong thời đại tư bản chủ nghĩa và trở thành động cơ quan trọng thúc đẩy cho sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ đơn thuần là quan hệ giao thương với bên ngoài, mà còn góp phần phân chia lao động khu vực và quốc tế bằng cách kết hợp với quan hệ kinh tế đối ngoại cùng với một hay nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới. 11 Trong cuốn “Giáo trình kinh tế học quốc tế”, của Giáo sư – Tiến sĩ Tô Xuân Dân, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển Kinh tế – Xã hội thành phố Hà Nội được Nhà xuất bản Thống kê xuất bản năm 1998 có viết: Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình giữa các quốc gia) thông qua mua – bán, lấy tiền tệ làm môi giới chung, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá [10, tr33]. Sự khác biệt trong hoạt động thương mại quốc tế và hoạt động thương mại nội địa thể hiện qua những đặc điểm sau: - Phạm vi hoạt động của thương mại quốc tế vượt ngoài bên giới quốc gia còn ở thương mại nội địa chỉ hoạt động trong lãnh thổ của quốc gia. - Chủ thể tham gia vào thương mại nội địa chỉ có ở trong nước còn chủ thể tham gia thương mại quốc tế có cả chủ thể nước ngoài.
- Địa điểm diễn ra hoạt động xuất nhập khẩu của thương mại quốc tế thường nằm ở hai hay nhiều quốc gia hoặc khu vực khác nhau. - Trong quá trình tham gia hoạt động thương mại quốc tế, các chủ thể thường sử dụng các đơn vị tiền tệ có khả năng chuyển đổi. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều thuyết và lý thuyết khác nhau về hoạt động thương mại quốc tế nhằm phục vụ cho những yêu cầu riêng biệt tùy theo mục đích, nhận thức và cách thức nghiên cứu.