chương 1, tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài bởi tính cấp thiết của việc hạn chế và xử lý nợ xấu tại các NHTM nói chung và Vietinbank nói riêng, đồng thời tác giả cũng nêu rõ mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Với kết cấu 05 chương, tác giả sẽ lần lượt đi sâu phân tích các nội dung về nợ xấu và các nhân tố tác động đến nợ xấu từ tổng quan lý thuyết, đến thực trạng tại Vietinbank, kiểm định mô hình, qua đó gợi ý một số chính sách, giải pháp đối với vấn đề nghiên cứu. 123doc 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI NHTM 2. Tổng quan về nợ xấu tại NHTM 2.
Khái niệm nợ xấu tại NHTM Hiện nay đang tồn tại khá nhiều khái niệm về nợ xấu - thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”, “non-performing loan” (NPL), “doubtful debt” (Rose, 2009; Mishkin, 2010). Trong số đó, có thể kể đến một số khái niệm nợ xấu của các tổ chức tài chính quốc tế đưa ra như sau: Theo nhóm chuyên gia tư vấn (Advisory Expert Group - AEG) của Liên Hợp Quốc: AEG thống nhất định nghĩa nợ xấu như sau: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Điều này nghĩa là nợ xấu được xác định trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày; khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Theo Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision - BCBS): BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu.
Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (BCBS, 2006). Như vậy, theo hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị khi khả năng thu hồi chúng là không thể. Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị 123doc 7 khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng.
Theo Chuẩn mực Kế toán quốc tế (International Accounting Standards - IAS): Chuẩn mực Kế toán quốc tế về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (non-performing). Về cơ bản IAS số 39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn.
Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund - IMF): “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế” (IMF, 2004). Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN về việc quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: nợ xấu (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5, trong đó: nợ nhóm 3 gọi là nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nhóm 4 gọi là nợ nghi ngờ và nợ nhóm 5 gọi là nợ có khả năng mất vốn. Về mặt định lượng, định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và quốc tế có sự tương đồng về thời gian trả nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên.
123doc 8 Như vậy, từ những khái niệm đã nêu trên, có thể hiểu nợ xấu là các khoản nợ đã quá hạn trả nợ gốc và/ hoặc lãi từ 91 ngày trở lên và có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng trả nợ của người đi vay. Tác động của nợ xấu Nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của các TCTD, từ đó có thể thấy được sức khỏe tài chính, kỹ năng quản trị rủi ro… của TCTD đó. Nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến TCTD bị thua lỗ và giảm lòng tin của người gửi tiền, ảnh hưởng đáng kể đến uy tín của TCTD. Tình trạng này kéo dài sẽ làm TCTD bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng (Bùi Duy Tùng và Đặng Thị Bạch Vân, 2015).
Tác động của nợ xấu đến nền kinh tế Khi nợ xấu gia tăng gây đình trệ nền kinh tế. Khi nợ xấu tăng, ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro, do đó lượng vốn đưa vào lưu thông bị hạn chế. Nếu nợ xấu tăng quá cao, ngân hàng không được phép cho vay đồng nghĩa với dòng luân chuyền vốn của nền kinh tế bị nghẽn lại, các thành phần khác của nền kinh tế (doanh nghiệp, hộ sản xuất, cá nhân, tổ chức kinh tế…) sẽ khó hoặc không thể tiếp cận nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều này sẽ gây ra những tác động xã hội như thất nghiệp, việc làm, an sinh xã hội (Masood et al.
Mặt khác, nợ xấu cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm định mức tín nhiệm quốc gia, làm giảm niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài, của các tổ chức quốc tế và tác động tiêu cực đến thu hút dòng vốn nước ngoài. Tác động của nợ xấu đến ngân hàng Nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng. Với tỷ lệ nợ xấu quá cao, vượt quá giới hạn cho phép theo quy định của NHNN cũng như tỷ lệ an toàn theo thông lệ quốc tế thì uy tín của NHTM đó trong nước và quốc tế sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng. 123doc 9 Điều này hạn chế quá trình hội nhập và phát triển của các NHTM (NHNN, 2016).
Nếu các khoản nợ xấu vẫn còn trên bảng cân đối kế toán sẽ làm giảm chất lượng tài sản của ngân hàng, ảnh hưởng đến danh tiếng, giảm lòng tin của người gửi tiền và nhà đầu tư (Asfaw et al. Nợ xấu làm giảm lợi nhuận, quy mô hoạt động của ngân hàng. Khi nợ xấu gia tăng, theo quy định pháp luật, các ngân hàng buộc phải trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản nợ xấu, như vậy làm gia tăng chi phí hoạt động, đồng nghĩa với việc lợi nhuận suy giảm. Nếu lợi nhuận không đủ thì ngân hàng còn phải dùng chính vốn tự có của mình để bù đắp thiệt hại, ảnh hưởng đến quy mô hoạt động (Ayaydin and Karakaya, 2014).
Nợ xấu ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản và phá sản của ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng là đi vay để cho vay. Một khi nợ xấu tăng cao tức rủi ro không thu hồi được hoặc thu hồi không đầy đủ số tiền đã cho vay tăng theo, trong khi ngân hàng phải hoàn trả đầy đủ và đúng hạn các khoản huy động từ người gửi tiền. Vì thế, dẫn đến sự thiếu hụt dòng tiền, khiến rủi ro thanh khoản của ngân hàng càng lớn.
Nếu nợ xấu không được xử lý kịp thời, có thể gây ra sự đổ vỡ của một số ngân hàng yếu kém, đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Nghiêm trọng hơn nó có thể dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tài chính quốc gia (Nkusu, 2011; Louzis et al., 2011; Joseph et al. Tác động của nợ xấu đến khách hàng (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 2013) Đối với khách hàng đi vay không có khả năng hoàn trả gốc và/hoặc lãi cho ngân hàng thì họ gần như không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và thậm chí là cả những nguồn khác trong nền kinh tế do đã mất đi uy tín. Áp lực trả nợ và nguy cơ thanh lý tài sản đảm bảo là khó tránh khỏi, dễ dẫn đến tình trạng phá sản của khách hàng.
Cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng của các chủ thể đi vay khác cũng bị hạn chế hơn khi rủi ro nợ xấu tăng cao buộc các NHTM thắt chặt cho vay. 123doc 10 Các chủ thể gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoản tiền gửi và lãi nếu như các ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản. Các chỉ tiêu đánh giá, đo lường nợ xấu Tùy vào tình hình cụ thể của mỗi ngân hàng, nền kinh tế trong mỗi thời kỳ khác nhau mà có thể các chỉ tiêu khác để đánh giá thực trạng nợ xấu. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu phổ biến thường xuyên được sử dụng như: Tỷ lệ nợ xấu: là tỷ lệ giữa tổng nợ xấu so với tổng dư nợ cho vay.
Tỷ lệ này càng cao thì rủi ro tín dụng càng lớn (Jiménez and Saurina, 2006; NHNN, 2013). Tỷ lệ cấp tín dụng xấu: là tỷ lệ giữa tổng nợ và cam kết ngoại bảng từ nhóm 3 đến nhóm 5 so với tổng nợ và cam kết ngoại bảng từ nhóm 1 đến nhóm 5 (NHNN, 2013). Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/tổng dư nợ: Chỉ số này cho biết bao nhiêu % dư nợ được trích lập dự phòng. Chỉ số này càng cao cho thấy chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàng đang tiêu cực và khả năng thu hồi nợ thấp.