CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẺ TÍN DỤNG VÀ QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 1. Cơ sở lý luận về thẻ tín dụng 1. Sơ lược và khái niệm về thẻ tín dụng a. Sơ lược về thẻ tín dụng Năm 1949, tiền thân của thẻ tín dụng ra đời.
Một ngày, người đàn ông tên Frank McNamara đi ăn nhà hàng ở New York. Khi thanh toán, Frank nhận ra mình không mang theo tiền và phải gọi vợ đến trả. Sau bữa tối đó, ông đã nghĩ ra cách thanh toán không dùng tiền mặt. Cùng với đối tác, ông lập ra Công ty Diners Club, phát hành loại thẻ chuyên dùng để thanh toán tại các nhà hàng.
Chỉ trong năm đầu tiền, có hàng chục nhà hàng ở New York chấp nhận loại thẻ này, người dùng thẻ lên đến hàng chục nghìn. Dần dần, thẻ được sử thêm ở cả các điểm du lịch, giải trí ngoài lĩnh vực ăn uống. Năm 1951, ngân hàng quốc gia Franklin tại Long Island, New York đã phát hành thẻ tín dụng có hạn mức đầu tiên tới khách hàng. Các thương nhân địa phương được ngân hàng ứng trước tiền mặt và sau đó họ thanh toán khoản tiền này cho ngân hàng.
năm 1966, Bank of America mở rộng chương trình thẻ tín dụng. Năm 1967, hiệp hội thẻ liên ngân hàng tiếp tục phát triển dưới cái tên MasterChange với biểu tượng hai vòng tròn lồng vào nhau. Năm 1970, ngân hàng quốc gia Americard thành lập, MasterChange cũng phát triển, 1400 tổ chức tài chính trên khắp nước Mỹ phát hành cả 2 loại thẻ. Năm 1976, Bank of America đổi tên thành Visa International.
Năm 1979, MasterChange trở thành MasterCard International. Khái niệm về thẻ tín dụng Theo điểm 3 điều 3 văn bản hợp nhất 06/VBHN-NHNN ban hành ngày 19 tháng 01 năm 2018 có đề cập đến khái niệm thẻ tín dụng như sau: “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ.” Cụ thể hơn, thẻ tín dụng là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, cung cấp cho nguời sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau. Tại thời điểm khách hàng thanh toán, ngân hàng sẽ đứng ra tạm ứng cho đơn vị cung cấp hàng hoá dịch 6 vụ và sau đó tiến hành thu hồi khoản tiền này từ khách hàng sau một thời gian nhất định. Khoảng thời gian từ khi thẻ được dùng để thanh toán tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài tuỳ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng khác nhau.
Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn, đây sẽ trở thành thời gian ân hạn và chủ thẻ hoàn toàn được miễn lãi với số dư nợ cuối kỳ. Ngược lại, nếu hết thời gian này mà chủ thẻ vẫn chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán hết dư nợ cuối kỳ thì họ sẽ phải chịu những khoản phí và lãi chậm trả trên số dư nợ còn lại. Sau khi thanh toán hết dư nợ phát sinh trong kỳ, hạn mức tín dụng của chủ thẻ sẽ được khôi phục như ban đầu. Đây chính là tính chất tuần hoàn của thẻ tín dụng.
Phân loại thẻ tín dụng a. Phân loại thẻ tín dụng theo phạm vi thanh toán Thẻ tín dụng mua sắm nội địa: Đây là loại thẻ tín dụng chỉ có chức năng thanh toán trong nước. Khi đi mua hàng ở siêu thị hay mua sắm online thì người dùng hoàn toàn có thể sử dụng chiếc thẻ này để mua hàng trong nước. Ngoài ra, thủ tục làm thẻ cũng đơn giản, chỉ cần khách hàng có thu nhập khoảng 6 - 7 triệu đồng trở lên là đã có thể sở hữu được một chiếc thẻ tín dụng với hạn mức vừa phải cho việc chi tiêu của họ.
Thẻ tín dụng du lịch nước ngoài: Dòng thẻ tín dụng du lịch nước ngoài mang tính chất quốc tế nhiều hơn. Thông thường là những chiếc thẻ tín dụng Mastercard. Loại thẻ này có hạn mức tương đối cao do đó điều kiện làm thẻ cũng phức tạp hơn. Khi sử dụng thẻ này thì khách hàng phải cân nhắc thật kĩ vì sẽ thường xuyên bị tính mức phí giao dịch ngoại tệ cho những giao dịch nước ngoài.
Nếu khách hàng có thu nhập khoảng từ 10 triệu trở lên thì hãy tính đến việc làm thẻ tín dụng này vì chi phí và lãi suất cũng tương đối cao. Phân loại thẻ tín dụng theo hạng thẻ Hạn mức của thẻ tín dụng được phân ra nhiều hạng tùy theo từng ngân hàng. Tại Việt Nam hiện nay, thông thường thẻ tín dụng được phân thành 4 cấp: 7 Bảng 1. Phân loại thẻ tín dụng theo hạng thẻ Loại thẻ Hạn mức tín dụng Thẻ chuẩn 10.000 VNĐ Thẻ vàng 10.000 VNĐ Thẻ Platinum 100.000 VNĐ Thẻ Infinite Không giới hạn c.
Phân loại thẻ tín dụng theo chủ thể Thẻ tín dụng doanh nghiệp: Được phát hành cho các tổ chức, công ty có nhu cầu sử dụng thẻ và chịu trách nhiệm thanh toán bằng nguồn tiền của tổ chức đó. Tổ chức, công ty xin phát hành thẻ sẽ uỷ quyền cho một cá nhân trong doanh nghiệp dùng thẻ (thường là Tổng giám đốc, giám đốc tài chính, cũng có thể là bất kỳ người nào trong công ty). Việc ủy quyền này phải kèm giấy ủy quyền hợp pháp theo chỉ định. Thẻ tín dụng cá nhân: Được phát hành cho các cá nhân có nhu cầu sử dụng thẻ và chịu trách nhiệm thanh toán bằng nguồn tiền của mình, bao gồm thẻ chính và thẻ phụ.
Thẻ chính dành cho người đứng tên xin phát hành cho chính họ sử dụng. Thẻ phụ sẽ do chủ thẻ chính đứng tên xin phát hành và chịu trách nhiệm với các khoản chi tiêu của thẻ phụ. Hạng thẻ phụ không được phép cao hơn thẻ chính, hạn mức thẻ phụ sẽ do thẻ chính quy định. Lợi ích của việc sử dụng thẻ tín dụng.
Đối với khách hàng cá nhân. Phương thức thanh toán an toàn và tiện dụng: Công nghệ sản xuất thẻ trình độ cao cộng với biện pháp chống giả mạo như mã hóa thông số từ tính hoặc kĩ thuật vi mạch điện tử khiến thẻ rất khó bị làm giả. Số tiền khách hàng được đảm bảo bằng chữ kí hoặc mã bảo mật riêng. Vì vậy, việc thẻ rơi hoặc mất cắp chưa chắc đã mất tiền trong khi mất tiền đồng nghĩa với việc không đòi lại được.
Về tính tiện dụng, khách hàng chỉ cần mang một tấm thẻ để thanh toán, tránh được rủi ro khi cầm tiền 8 mặt. Sử dụng thẻ tín dụng cũng khiến quá trình thanh toán được nhanh hơn. Ngoài ra, khách hàng có thể đổi mã PIN tại cây ATM hoặc tại chính quầy giao dịch. Luôn sẵn sàng sử dụng: Khi người dùng cần một khoản tiền gấp có thể sử dụng thẻ tín dụng sau đó trả dần mà không cần làm hồ sơ vay phức tạp như hình thức vay thông thường.
Ngoài ra, khách hàng có thể dùng thẻ để thanh toán, rút tiền tại ATM/POS trong nước và quốc tế có biểu tượng của tổ chức phát hành. Hình thức bảo đảm: Tín chấp, cầm cố sổ tiết kiệm tại Ngân hàng phát hành. Dễ dàng, thuận tiện theo dõi và quản lý chi tiêu thông qua: Sao kê được gửi qua email, mobile, chuyển phát bảo đảm, tin nhắn gửi miễn phí đến điện thoại, thông tin cảnh báo miễn phí khi thẻ có dấu hiệu bị gian lận, giả mạo. Khách có thể đặt phòng khách sạn, vé máy bay, tour du lịch,… trên Internet.
Phương thức trả nợ đa dạng: Tự động trích từ tài khoản của khách hàng tại ngân hàng, trả trực tiếp tại điểm giao dịch, chuyển khoản qua ATM/Internet. Thanh toán hóa đơn: Những chi phí hàng tháng như tiền điện, tiền nước. Chủ thẻ nhận được ưu đãi, giảm giá khi dùng thẻ tại các đối tác liên kết trong chương trình liên kết với tổ chức phát hành thẻ và ngân hàng; Không phải trả lãi tối đa 60 ngày cho các giao dịch mua sắm khi chủ thẻ trả đủ nợ hàng kì và đúng hạn. Khi đi công tác hay du lịch nước ngoài, chủ thẻ dễ dàng thanh toán nhờ khả năng quy đổi ngoại tệ của thẻ tín dụng.
Được trợ giúp mọi lúc mọi nơi với dịch vụ Khách hàng 24/7. Đối với đơn vị phát hành thẻ Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ của ĐVPHT nhằm thu hút thêm khách hàng giao dịch, tăng cường các mối quan hệ với khách hàng và các ĐVCNT. Tăng doanh thu và lợi nhuận cho ĐVPHT thông qua việc cấp tín dụng với lãi suất tiêu dùng khá cao, ngoài ra còn có thu nhập từ khoản phí từ các ĐVCNT và phí từ khách hàng sử dụng thẻ như phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí chậm trả,… 9 Góp phần chuyển dịch cơ cấu lợi nhuận từ những hoạt động rủi ro cao sang những hoạt động có rủi ro thấp. Tăng nguồn vốn huy động không thời hạn từ các ĐVCNT giúp tăng doanh số huy động và lợi nhuận cho ngân hàng.
Đối với đơn vị chấp nhận thẻ Tạo thêm kênh thanh toán mới, tiện lợi, an toàn, nhanh chóng thu hút thêm nhiều khách hàng, mở rộng thị trường, tăng lượng hàng hóa dịch vụ từ đó tăng doanh số bán hàng, tăng lợi nhuận. Đảm bảo khả năng chi trả của khách hàng, giảm chi phí kiểm đếm tiền mặt. Hưởng các ưu đãi từ ngân hàng và có cơ hội thực hiện các chương trình khuyến mãi liên kết với ngân hàng. Tăng uy tín với khách hàng như là một đơn vị kinh doanh hiện đại.
Thẻ tín dụng còn góp phần tăng sức cạnh tranh cho các ĐVCNT so với các đơn vị không chấp nhận thẻ thanh toán, được lắp đặt thiết bị đọc thẻ, đường truyền miễn phí. Rủi ro của việc sử dụng thẻ tín dụng a. Đối với khách hàng cá nhân Khách hàng có thể bị kẻ gian đánh cắp thông tin về thẻ và giao dịch trên chính thẻ tín dụng của mình. Vì chưa hiểu rõ quy định sử dụng thẻ nên khách hàng có thể bị tính lãi.
Nhân viên tại ĐVCNT in nhiều hóa đơn cho một thẻ nhưng chỉ cho chủ thẻ kí một bộ hóa đơn và giả mạo chữ kí của chủ thẻ để đòi thanh toán từ ĐVPHT. Khi giao dịch qua mạng, khách hàng có thể gặp rủi ro. Để tránh bị đánh cắp thông tin thẻ, khách hàng cần kiểm tra website mình giao dịch có tin cậy không. Đối với đơn vị phát hành thẻ Rủi ro tín dụng: Khi việc thẩm định không được tiến hành đúng mực, khách hàng được cấp tín dụng nhưng không có khả năng tài chính, ĐVPHT có nguy cơ bị mất khoản tiền đã cấp cho khách hàng với những thẻ cấp theo hình thức tín chấp; hoặc tốn thêm chi phí kiện tụng và xử lý tài sản với thẻ cấp theo hình thức thế chấp.