Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về các nhân tổ tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÁC YEU TO TAC ĐỘNG DEN HIEU QUA HOAT DONG KINH DOANH CUA DOANH NGHIEP 1. Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, nó phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh là thu được lợi ích nhiêu hơn. Do quan niệm hiệu quả là thu được lợi ích nhiều hơn nên trong thực tế tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về phạm trù hiệu quả.
Cụ thé là, có quan niệm cho rằng hiệu quả là loại chỉ tiêu tuyệt đối, biéu hiện sự gia tăng về kết qua của kỳ nghiên cứu so với kỳ sốc. Loại hiệu quả này được gọi là hiệu quả tuyệt đối. Gọi như vậy vì nó là sự gia tăng kết quả biểu hiện bang số tuyệt đối. Nhìn chung, cách đánh giá này tương đối đơn giản, dé hiểu nhưng van còn tồn tại hạn chế đó là đánh giá hiệu qua chi mới xem xét đến kết quả mà chưa xét tới chi phí.
Bởi vì nếu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo thời gian có gia tăng về số tuyệt đối nhưng lại có tốc độ phát triển chậm hơn so với tốc độ tăng của chi phí sản xuất kinh doanh thì cũng không thể đánh giá được răng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là có hiệu quả. Chính vì vậy, một quan niệm khác đầy đủ hơn cho răng: Hiệu quả là loại chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh giữa KQSXKD với chi phí cho sản xuất kinh doanh. Quan hệ này có thê biểu hiện dưới dạng hiệu số hoặc thương số. Nếu xét về quan hệ hiệu số (nêu KQSXKD trừ đi chi phí sản xuất kinh doanh mang dau đương thì doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và ngược lại) thì vẫn chưa hợp lý và thuyết phục do nếu tốc độ tăng hiệu quả chậm hơn tốc độ tăng của KQSXKD và chậm hơn tốc độ tăng của chi phí thì vẫn chưa thé đánh được giá được răng doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả.
Mặt khác, nếu xét theo quan hệ thương số thi HQSXKD là chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa KQSXKD với chi phí sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này có thé là dạng thuận hoặc dạng nghịch, giúp ta đánh giá HQSXKD của doanh nghiệp một cách hợp lý, đầy đủ nhât. Tóm lại, HQSXKD là loại chi tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa KQSXKD với chi phí san xuat, kinh doanh (chi tiéu dạng thuận) hoặc ngược lại (chỉ tiêu dạng nghịch). Phân loại hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh HQHDSXKD được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Dưới đây là một số tiêu thức phân loại cơ bản nhất. a) Phân loại hiệu quả theo mục đích kinh doanh Đối với tiêu thức này, HQHDSXKD của doanh nghiệp được phân thành: hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh doanh xã hội. - Hiệu quả kinh doanh cá biệt: là HQSXKD thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Hiệu quả kinh doanh xã hội: là sự đóng góp của HDSXKD trong lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động, tăng thu cho ngân sách Nhà nước.
b) Phân loại hiệu qua theo nội dung chi phí Đối với tiêu thức này, HQSXKD của doanh nghiệp được phân thành: hiệu qua của chi phí bộ phận và hiệu qua của chi phí tổng hop. c) Phân loại hiệu quả theo phương pháp tính toán Đối với tiêu thức này, HQSXKD của doanh nghiệp được phân thành: hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối. - Hiệu quả tuyệt đối: là hiệu quả được tính toán cho từng phương án kinh doanh cụ thể, bằng cách xác định chênh lệch giữa mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra. - Hiệu quả tương đối: là hiệu quả được xác định bằng cách so sánh về số tương đối giữa chỉ tiêu kết quả với chi phí.
d) Phân loại hiệu quả theo ý nghĩa phản ánh Đối với tiêu thức này, HQSXKD của doanh nghiệp (hiệu quả tương đối) được phân thành: hiệu quả tính dưới dạng thuận và hiệu quả tính dưới dạng nghịch. - Hiệu quả tính dưới dạng thuận: là HQSXKD được đo lường bằng chỉ tiêu tương đối, biéu hiện quan hệ so sánh giữa kết qua đầu ra với chi phí đầu vào, phan ánh kết quả đầu ra đạt được khi bỏ ra một đơn vị chỉ phí đầu vào. - Hiệu quả tính dưới dạng nghịch: là HQSXKD được đo lường bằng chỉ tiêu tương đối biéu hiện quan hệ so sánh giữa chi phí đầu vào với kết quả đầu ra, phản ánh chi phí đầu vào phải bỏ ra dé tạo ra một đơn vị kết qua đầu ra. e) Phân loại hiệu quả theo phạm vi tính toán 5 Đối với tiêu thức nay, HQSXKD của doanh nghiệp (hiệu quả tính dưới dang thuận và dạng nghịch) được phân thành: hiệu quả toàn phần, đầy đủ và hiệu quả đầu tư tăng thêm.
- Hiệu quả toàn phan, day đủ: là chỉ tiêu hiệu quả tương đối, dạng thuận va dạng nghịch được tính chung cho toàn bộ KQSXKD và tính đầy đủ với toàn bộ chi phí của từng yếu tố hoặc tính chung cho tông nguồn lực. - Hiệu quả đầu tư tăng thêm: là chỉ tiêu hiệu quả tương đối dạng thuận và dạng nghịch chỉ tính cho phần yếu tố chi phi đầu tư tăng thêm và kết qua tăng thêm tương ứng của thời kỳ tính toán, được xác định bằng cách so sánh kết quả gia tăng do dau tư tăng thêm mang lại trong kỳ với phan chi phí đầu tư tăng thêm trong kỳ. Vai trò của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh đoanh là công cụ hữu hiệu dé các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh : Khi tiến hành bat kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì các doanh nghiệp đều phải huy động và sử dụng các nguồn lực mà doanh nghiệp có khả năng có thé tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Ở mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp thì doanh nghiệp đều có nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùm toàn bộ qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp.
Đề thực hiện mục tiêu tối da hoá lợi nhuận cũng như các mục tiêu khác, các nhà doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp, nhiều công cụ khác nhau. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong các công cụ hữu hiệu nhất dé các nhà quan trị thực hiện chức năng quan trị của mình. Thông qua việc tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không những cho phép các nhà quản trị kiểm tra đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (các hoạt động có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt ở mức độ nào), mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, dé từ đó đưa ra được các biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phương diện giảm chỉ phí tăng kết quả nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với tư cách là một công cụ quản trị kinh doanh hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng dé kiểm tra, đánh giá và phân tích trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp ma còn được sử dụng để kiểm tra đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp.
Do vậy xét trên phương diện lý luận và thực tiễn thì phạm trù hiệu quả sản xuất 6 kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được trong việc kiểm tra đánh giá và phân tích nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu nhất, lựa chọn được các phương pháp hợp lý nhất dé thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đã đề ra. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp các nhà quản trị còn coi hiệu quả kinh tế như là các nhiệm vụ, các mục tiêu dé thực hiện,là điều kiện hết sức quan trọng trong việc đảm bảo sự ton tại và phát triển của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn là nhân tố thúc day sự cạnh tranh và tiễn bộ trong sản xuất kinh doanh. Vì vậy, đối với các nhà quản trị khi nói đến các hoạt động sản xuất kinh doanh thì họ đều quan tâm đến tính hiệu quả của nó.
Do vậy mà hiệu quả sản xuất kinh doanh có vai trò là công cụ để thực hiện nhiệm vụ quản tri kinh doanh đồng thời vừa là mục tiêu dé quản trị kinh doanh. Ý nghĩa của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Việc phân tích HQSXKD của doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho nhiều nhóm đối tượng quan tâm khác nhau: a) Đối với nhà quản trị doanh nghiệp - Thông qua việc phân tích HQSXKD đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, nguôn vốn, chỉ phí,. Từ đó thay được những ưu điểm và hạn chế trong quá trình sản xuất kinh doanh, phát huy những mặt tích cực và đưa ra được những giải pháp nhằm tối ưu hóa từng yếu tố góp phan nâng cao hiéu qua sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, qua đó giúp doanh nghiệp ngày một phát triển vững mạnh, tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động. b) Đối với các nhà đầu tư - Thông qua việc phân tích HQSXKD của doanh nghiệp cụ thé là các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả kinh doanh, các nhà đầu tư đã nắm bắt được tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định nên đầu tư thêm hay rút vốn nhằm thu lợi nhuận cao nhất và đảm bảo an toàn cho vốn đầu tư.