CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CƠ CẤU VỐN DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về cơ cấu vốn của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm chung Nguồn vốn là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Nguồn vốn này được doanh nghiệp huy động theo 2 nguồn chính là vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp là tỉ lệ giữa tổng nợ (gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn) và vốn chủ sở hữu, hay nói cách khác “Cơ cấu vốn là thuật ngữ chỉ việc doanh nghiệp sử dụng một tỉ lệ nào đó các dạng nguồn vốn khác nhau nhằm sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh” (Bạch Đức Hiển, 2007). Sử dụng nợ đến từ việc phát hành trái phiếu hoặc vốn vay các tổ chức tín dụng trong khi đó vốn chủ sở hữu được huy động từ 3 nguồn: cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi và lợi nhuận giữ lại.
Khái niệm về cơ cấu vốn của doanh nghiệp có nhiều quan điểm khác nhau. Westerfield và Bradford D. Jordan (2003), cơ cấu vốn của một doanh nghiệp là sự kết hợp giữa việc sử dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu theo một tỉ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo Nguyễn Minh Kiều (2012) thì cơ cấu vốn là “Quan hệ về tỉ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu, bao gồm vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường trong tổng số nguồn vốn của công ty”.
Nhìn chung, khái niệm cơ cấu vốn dùng để chỉ tỉ trọng các loại vốn hay nguồn vốn của một công ty, bao gồm trái phiếu, vốn vay các tổ chức tín dụng, vốn cổ phần phổ thông, vốn cổ phần ưu đãi và lợi nhuận giữ lại.2 Các thành phần trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp 1.1 Vốn vay Vốn vay được doanh nghiệp huy động từ việc phát hành chứng khoán nợ (trái phiếu), vay ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác. Chi phí của vốn vay chính là Luan van 7 lãi suất mà doanh nghiệp phải trả khi doanh nghiệp vay các tổ chức tín dụng hay lợi tức yêu cầu của trái phiếu khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán nợ. Chi phí vốn vay có thể được tính bằng nhiều cách, một trong những cách được sử dụng nhiều nhất đó là chiết khấu dòng tiền doanh nghiệp phải trả trong tương lai bằng với giá trị khoản vay ở hiện tại. Vốn vay được chia thành 2 khoản mục trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp là: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Nợ ngắn hạn Khoản mục nợ ngắn hạn bao gồm tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp phát sinh trong vòng một năm. Tài khoản này là một trong những tiêu chí rất quan trọng để đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp. Khoản mục này kết hợp cùng với khoản mục tài sản ngắn hạn sẽ xác định được chỉ số thanh toán nhanh hoặc chỉ số thanh toán hiện hành của doanh nghiệp. Nếu cả hai chỉ số này đều nhỏ hơn 1 (hay nợ ngắn hạn nhiều hơn tài sản ngắn hạn) các nhà đầu tư có thể đánh giá doanh nghiệp yếu kém về mặt tài chính hay tính thanh khoản của doanh nghiệp còn thấp.
Tuy rằng nợ ngắn hạn có vòng quay là một năm nhưng vẫn có một phần của nợ dài hạn trong khoản mục này. Đó là phần các khoản nợ dài hạn đến hạn trả. Nợ dài hạn Nợ dài hạn bao gồm các khoản nợ kéo dài trên một năm của doanh nghiệp. Khoản mục này gồm tất cả các nghĩa vụ tài chính, khoản đi thuê mà thời hạn phải trả của doanh nghiệp lớn hơn một năm.
Các khoản này có thể phát sinh từ việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp hoặc cho thuê dài hạn, các khoản vay vốn ngân hàng hay những thỏa thuận tài chính kéo dài trên một năm.2 Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu chính là vốn thuộc sở hữu của các cổ đông trong một doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu được hình thành chủ yếu từ 2 nguồn là: vốn góp của các cổ đông (thông qua việc phát hành cổ phiểu phô thông và cổ phiếu ưu đãi) và lợi nhuận giữ lại. Luan van 8 Cổ phiếu phổ thông Cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) là loại chứng khoán đại diện cho phần sở hữu của các cổ đông trong một doanh nghiệp hay tập đoàn, các cổ đông có quyền bỏ phiếu, tự do chuyển nhượng và được chia lợi nhuận từ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua cổ tức và phần giá trị tài sản tăng thêm (chênh lệch giá) của doanh nghiệp theo giá thị trường. Về mặt thanh khoản, các cổ đông nắm giữ cổ phiếu phổ thông sẽ có quyền lợi sau cùng đối với tài sản của doanh nghiệp, sau quyền lợi của người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu trong trường hợp doanh nghiệp xảy ra phá sản.
Điều này đã làm cổ phiếu phổ thông trở nên rủi ro hơn so với trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, do vậy lợi suất yêu cầu của nó cũng cao hơn. Do dòng tiền của các cổ đông sở hữu cổ phiếu thường không ổn định và đều đặn nên khó xác định được chính xác chi phí hay lợi suất yêu cầu của cổ phiếu thường. Phương pháp thường dùng là sử dụng mô hình định giá tài sản CAPM xác định bởi công thức: E(Ri) = RF + βi [E(Rm) – RF], trong đó: (1.1) E(Ri): Lợi suất yêu cầu cổ phiếu i RF: Lợi suất phi rủi ro của thị trường βi : Hệ số rủi ro của cổ phiếu i E(Rm): Lợi suất kì vọng của thị trường Cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu ưu đãi cũng tương tự như cổ phiếu thường, là chứng khoán đại diện cho phần sở hữu của các cổ đông trong doanh nghiệp, tuy vậy người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết như cổ đông thường. Cổ phiếu ưu đãi trả cho các cổ đông một lượng cố định cổ tức qua các năm mà không quan tâm tới việc tình hình họat động kinh doanh của doanh nghiệp lỗ hay lãi.
Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi luôn nhận được cổ tức trước cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường và họ Luan van 9 cũng được trả tiền trước trong trường hợp doanh nghiệp phá sản. Cổ phiếu ưu đãi gồm 3 loại: cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức và cổ phiếu ưu đãi hoàn lại. Cổ phiếu ưu đãi có thể được chuyển sang thành cổ phiếu phổ thông. Do dòng tiền của các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi là dòng tiền đều qua các năm nên chi phí cổ phiếu ưu đãi được xác định bởi công thức: D rP = P (1.2) P0 trong đó: rP: Chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi DP: Cổ tức trên mỗi cổ phiếu ưu đãi P0: Giá trị hiện tại của mỗi cổ phiếu ưu đãi Lợi nhuận giữ lại Lợi nhuận giữ lại là phần trăm lợi nhuận ròng không sử dụng để chi trả cổ tức mà được doanh nghiệp giữ lại để tái đầu tư cho các mục tiêu quan trọng hoặc để trả nợ.
Khoản mục này nằm bên dưới vốn chủ sở hữu trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Lợi nhuận giữ lại = lợi nhuận giữ lại ban đầu + thu nhập ròng – cổ tức Trong hầu hết trường hợp, doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận giữ lại để đầu tư vào các mảng mà doanh nghiệp có thể tạo ra tăng trưởng tốt và sinh lợi cao như việc mua sắm các máy móc hiện đại hay đầu tư cho phòng nghiên cứu và phát triển (R&D). Nếu khoản lỗ trong năm nay lớn hơn thu nhập giữ lại ban đầu thì lợi nhuận giữ lại có thể là một số âm, tạo nên một khoản thiếu hụt trong doanh nghiệp.3 Vai trò của cơ cấu vốn đối với doanh nghiệp Tất cả các họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều không thể hoạt động bình thường nếu doanh nghiệp không có khả năng về tài chính hay tình hình tài chính của doanh nghiệp có vấn đề. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp là tỉ lệ giữa việc sử dụng vốn vay và vốn chủ sở hữu một cách hiệu quả để nâng cao được Luan van 10 kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Để quyết định được tỉ lệ này một cách hợp lý, các nhà quản lý phải cân nhắc và xem xét trên rất nhiều yếu tố nhằm đạt được lợi ích cao nhất cho các cổ đông. Sử dụng vốn chủ sở hữu hay nợ thì đều nhằm mục đích tài trợ vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng mỗi thành phần lại có những ưu nhược điểm riêng khi sử dụng. Vì vậy, việc phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đưa ra được một cơ cấu vốn tối ưu trong những hoàn cảnh cụ thể là một vấn đề cấp thiết đối với những nhà quản trị tài chính.4 Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn của doanh nghiệp Hiện nay có rất nhiều chỉ tiêu được sử dụng để phản ánh cơ cấu vốn của doanh nghiệp như: tỉ trọng nợ, tỉ trọng nợ ngắn hạn, tỉ trọng nợ dài hạn, hệ số tự tài trợ, hệ số đòn bẩy tài chính,.
Tuy nhiên, trong bài luận văn này, tác giả chỉ tập trung sử dụng 03 chỉ tiêu chính như sau để chạy mô hình thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp: Tổng nợ Tỉ trọng nợ = (1.4) Tổng nguồn vốn Chỉ tiêu này phản ánh nợ phải trả chiếm tỉ lệ bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy doanh nghiệp càng sử dụng nhiều nợ vay. Nếu chỉ tiêu này trên 50% chứng tỏ doanh nghiệp có cơ cấu vốn thiên về sử dụng nợ vay Nợ ngắn hạn Tỉ trọng nợ ngắn hạn = (1.5) Tổng nguồn vốn Chỉ tiêu này phản ánh nợ ngắn hạn chiếm tỉ lệ bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy doanh nghiệp càng sử dụng nhiều nợ vay ngắn hạn.
Nợ dài hạn Tỉ trọng nợ dài hạn = (1.6) Tổng nguồn vốn Luan van 11 Chỉ tiêu này phản ánh nợ dài hạn chiếm tỉ lệ bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy doanh nghiệp càng sử dụng nhiều nợ vay dài hạn.2 Những lý thuyết về cơ cấu vốn của doanh nghiệp 1.