Chương 1: Cơ sở lý luận - trình bày các vấn đề lý luận về diễn ngôn và lập luận. Chương 2: Các kiểu lập luận được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng (trên tư liệu cuốn “DNHCM”). Chương này sẽ trình bày kết quả thống kê, miêu tả và phân tích các mẫu lập luận theo từng phương thức cấu thành cụ thể. Chương 3: Biểu hiện quyền lực trong lập luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chương này trình bày kết quả nghiên cứu và phân tích các biểu hiện của quyền lực trong lập luận của Hồ Chủ tịch thông qua các phương tiện ngôn ngữ bao gồm từ vựng, ngữ pháp và phép lịch sự. Ngoài ra, luận văn còn có phần tài liệu tham khảo, các bảng thống kê và phụ lục kèm theo. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lý thuyết về diễn ngôn 1.
Một số quan điểm về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn Nghiên cứu diễn ngôn có thể quy về hai trường phái chính là trường phái cấu trúc luận (hay còn gọi là hệ cấu trúc luận (hình thức luận) và trường phái chức năng luận (hay còn gọi là hệ chức năng luận). Theo đó, hệ cấu trúc luận thường coi diễn ngôn như một loại đơn vị nào đó, mà trong đó có thể có các đơn vị thành phần nhỏ hơn, và mạng lưới quan hệ giữa các đơn vị này. Trong khi đó, hệ chức năng luận lại xem xét vấn đề mang tính tổng thể hơn: ngôn ngữ hành chức, ngôn ngữ hoạt động, tương tác xã hội, hay việc sử dụng ngôn ngữ. Phân tích diễn ngôn theo đường hướng cấu trúc luận tất yếu sẽ dẫn đến việc xem xét diễn ngôn như một đơn vị trên câu.
Paxpelốp viết về “Chỉnh thể cú pháp phức hợp”, O.Akhmanova đề cập đến cái gọi là “chỉnh thể trên câu”, Harriz (1952) là người đầu tiên nói về phương pháp “phân tích diễn ngôn – Discourse analysis” áp dụng cho các chuỗi câu liên kết gọi là Discourse (Diễn ngôn). Ông coi phân tích diễn ngôn như là một hệ phương pháp hình thức phân tích văn bản thành các đơn vị nhỏ hơn. Chẳng hạn như một cuộc hội thoại sẽ bao gồm các lượt (turn), hành động nói và sự kiện ngôn ngữ. Harriz đối lập giữa cái tập hợp câu là diễn ngôn với cái gọi là một tập hợp ngẫu nhiên không có tính mạch lạc.
(Theo Nguyễn Hòa [12, tr. 23]) Hệ chức năng luận có mục đích nghiên cứu là ngôn ngữ hành chức. Do đó, các nhà ngôn ngữ học thuộc hệ chức năng luận khi đề cập đến diễn ngôn và phân tích diễn ngôn đều gắn liền nó với ngôn ngữ hành chức. Theo quan điểm của Fasold (1990) thì: “Nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu mọi khía cạnh sử dụng của ngôn ngữ”.
Còn Brown và Yule trong cuốn “Discourse analysis” (Phân tích diễn ngôn) thì cho rằng: “Phân tích diễn ngôn nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức”. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng theo Nguyễn Hòa, cách định nghĩa diễn ngôn như là việc sử dụng ngôn ngữ cũng nhất quán với hệ chức năng luận, theo đó, ngôn ngữ được nhìn nhận như là một hệ thống, ở đó các chức năng được hiện thực hóa. Việc nhìn nhận diễn ngôn theo hệ chức năng luận đã giả thiết có một mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh. Như vậy, việc phân tích diễn ngôn khó có thể tách khỏi việc phân tích ngữ cảnh hay mối quan hệ giữa diễn ngôn và ngữ cảnh.
Cuối cùng, tác giả cho rằng, cần thiết phải kết hợp giữa cấu trúc luận và chức năng luận trong phân tích diễn ngôn. Với hệ cấu trúc luận, nhiệm vụ của phân tích diễn ngôn sẽ là xác định và phân tích các thành tố cấu thành diễn ngôn (phát ngôn), xác định vị trí của các yếu tố cấu thành, và xem xét các cách thức tổ chức của diễn ngôn cho phù hợp với mục đích giao tiếp. Với hệ chức năng luận, phân tích diễn ngôn có nhiệm vụ xác định và phân tích các hành động nói do người nói thực hiện nhằm thực hiện các mục đích nhất định cũng như hiểu các ý nghĩa xã hội, văn hóa hay cá nhân. “Diễn ngôn” và “văn bản” “Diễn ngôn” và “văn bản” là hai khái niệm cơ bản trong lý luận phân tích diễn ngôn.
Nhiều tác giả sử dụng “diễn ngôn” cũng như là “văn bản”. Văn bản cũng có khi được hiểu theo hai phương diện: sản phẩm và quá trình. Với tư cách là sản phẩm, văn bản là một thực thể có thể ghi nhận lại được, và có một cấu trúc nhất định. Với tư cách là một quá trình, văn bản là sự lựa chọn nghĩa liên tục, một quá trình vận động qua các ngữ vực, trong đó, mỗi loạt lựa chọn lại có thể tạo ra môi trường cho các loạt lựa chọn khác.
Theo Diệp Quang Ban [2, tr. 212], tên gọi “diễn ngôn” và “văn bản” đã được sử dụng qua ba giai đoạn và với các cách sử dụng khác nhau tùy theo đặc trưng của từng giai đoạn: - Giai đoạn đầu, việc nghiên cứu tập trung vào sự kiện nói bằng chữ viết. Do đó, tên gọi “văn bản” được dùng để chỉ chung những sự kiện nói bằng chữ viết và sự kiện nói miệng có mạch lạc và liên kết. - Giai đoạn hai, ngôn ngữ nói được quan tâm nhiều hơn, tạo thế cân bằng với ngôn ngữ viết.
Vì vậy, hai thuật ngữ “diễn ngôn” và “văn bản” được sử dụng song 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuy nhiên, có xu hướng dùng “văn bản” để chỉ sự kiện nói bằng chữ viết (lời chữ), còn “diễn ngôn” để chỉ sự kiện nói bằng miệng (lời âm). - Giai đoạn ba, do nảy sinh khó khăn trong việc xác định sự khác biệt rạch ròi giữa dạng nói và dạng viết nên đến giai đoạn này, “diễn ngôn” được dùng như “văn bản” ở giai đoạn đầu, tức dùng để chỉ chung cả sự kiện nói miệng lẫn sự kiện nói bằng chữ viết. Các nhà nghiên cứu dựa theo quan điểm khác nhau mà sử dụng thuật ngữ “diễn ngôn” hay “văn bản”.
Halliday và Hasan theo quan điểm của giai đoạn đầu, theo đó hai tác giả này cho rằng “văn bản có thể là bất kỳ đoạn văn nào, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một chỉnh thể thống nhất hoàn chỉnh.”… “Văn bản là một đơn vị ngôn ngữ hành chức”, và “Văn bản là một đơn vị ngữ nghĩa – semantic unit”. Tác giả Hồ Lê lại theo quan điểm của giai đoạn hai. Ông nêu khái niệm “văn bản là chỉnh thể của một sản phẩm – viết để diễn đạt trọn vẹn một ý kiến về một vấn đề hoặc một hệ thống vấn đề. Ngôn bản là chỉnh thể của một sản phẩm – nói để diễn đạt trọn vẹn ý kiến về một vấn đề hoặc hệ thống vấn đề.” Xu hướng chung hiện nay là phân biệt giữa “diễn ngôn” và “văn bản”.
Crystal (1992) cho rằng: “Diễn ngôn là một chuỗi ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị có mạch lạc, như bài truyền giáo, một lý lẽ, một câu chuyện tiếu lâm hay chuyện kể”, và “Văn bản là một đoạn diễn ngôn nói hay viết, hoặc thể hiện ở dạng kí hiệu sử dụng tự nhiên, được xác định để phân tích. Đây thường là một đơn vị ngôn ngữ có một chức năng giao tiếp có thể xác định được như một cuộc hội thoại hay tấm áp phích.” Cook (1989) đã coi diễn ngôn như là “các chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích” và văn bản như là “một chuỗi ngôn ngữ được hiểu theo một cách hình thức, nằm ngoài ngữ cảnh”. Brown & Yule (1983) thì quan niệm “văn bản là sự thể hiện ngôn từ của một hành động giao tiếp”, ở chỗ khác hai tác giả lại cho rằng “văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn”. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Widdowson (1984) cũng có cùng quan điểm giống Brown & Yule trong các phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản.
Theo tác giả, “diễn ngôn là một quá trình giao tiếp. Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là Văn bản.” Với các quan điểm về diễn ngôn và văn bản như vậy, Nguyễn Hòa [12, tr. 32] đã nhận xét: “Trên một phương diện nhất định, diễn ngôn hay văn bản có thể coi là hai mặt của một sự vật, tuy ngoại diên của diễn ngôn rộng hơn so với văn bản, bởi lẽ với tư cách là một quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp, nó còn bao hàm cả các yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh tình huống, yếu tố dụng học, và tác động của các chiến lược văn hóa ở người sử dụng ngôn ngữ.” Theo đó, Nguyễn Hòa phân biệt “văn bản” và “diễn ngôn” như sau: “Văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể.” “Diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể.” Như vậy, với tư cách là “một sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh”, diễn ngôn “phải có tính chủ đề từ chủ đề bộ phận đến chủ đề chung, có mạch lạc”. Để tạo nên mạch lạc, diễn ngôn không những phải thể hiện sự liên kết trên nhiều phương diện mà còn là sự tổ chức một cách hợp lý của các yếu tố quan yếu (có giá trị giao tiếp) tuân theo các quy tắc cần và đủ.
33] Tuy phân biệt khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” nhưng Nguyễn Hòa cũng nhận định rằng, trên thực tế, rất khó có thể phân biệt rạch ròi giữa diễn ngôn và văn bản; bởi lẽ trong văn bản sẽ có cái diễn ngôn, trong diễn ngôn sẽ có cái văn bản. Đây không phải là hai thực thể tách biệt mà chỉ là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnh giao tiếp xã hội. Sự phân biệt “diễn ngôn” và “văn bản” như trên dẫn tới sự phân biệt giữa “phân tích diễn ngôn” và phân tích văn bản”. Theo Nunan, phân tích văn bản xem xét các đặc điểm hình thức của văn bản tách rời ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ; còn phân tích diễn ngôn sẽ quan tâm tới mặt chức năng.
Tuy vậy, cũng như “văn bản” và 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.