CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng là một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ với lịch sử phát triển hàng trăm năm. Ở thời kỳ sơ khai ngân hàng chỉ làm nhiệm vụ bảo quản, thu đổi và nhận thù lao cho dịch vụ của mình. Đến khoảng từ thế kỷ thứ V – XVII, ngân hàng dần hoàn thiện các nghiệp vụ ngân hàng thương mại như ghi chép sổ sách, hình thành số hiệu tài khoản, thanh toán giữa các ngân hàng với nhau.
Từ thế kỷ XVII trở đi các nghiệp vụ dần hoàn thiện hơn như: nhận gửi và cho vay, phát hành tiền, chiết khấu thương phiếu, chuyển ngân, thanh toán bù trừ, bảo lãnh và mở rộng phạm vi hoạt động ra ngoài lãnh thổ. Tiếp sau thế kỷ XVIII các ngân hàng thương mại đã bắt đầu phát hành kỳ phiếu cho vay, tách khỏi dự trữ vàng và dần tách biệt giữa ngân hàng phát hành và không phát hành tiền, hình thành nên ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại (Cassis, Grossman, & Schenk, 2016). Hiện nay ngân hàng thương mại được biết đến như là một tổ chức tài chính trung gian trong nền kinh tế. Có rất nhiều khái niệm khác nhau và cũng có nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về ngân hàng thương mại như: tổ chức tài chính, định chế tài chính, tổ chức tín dụng, ngân hàng.
nhưng cơ bản, các khái niệm đều cùng hàm chứa nội dung tương đồng để khắc họa hoạt động của ngân hàng thương mại. Theo Rose (2010), ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Theo Mishkin (2012), thuật ngữ các tổ chức lưu ký để chỉ các trung gian tài chính nhận tiền gửi từ các cá nhân và tổ chức và thực hiện các khoản vay. Các tổ chức trung gian tài chính này tham gia vào việc tạo tiền gửi, một thành phần của cung tiền.
Các tổ chức này bao gồm các ngân hàng thương mại và các tổ chức tiết kiệm như: Hiệp hội tiết kiệm và cho vay và các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ. Trong đó: 2 Ngân hàng là các trung gian tài chính huy động vốn chủ yếu bằng cách phát hành tiền gửi có thể phát séc (tiền gửi có thể viết séc), tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn (tiền gửi có kỳ hạn cố định đến ngày đáo hạn). Sau đó họ sử dụng số tiền này để thực hiện các khoản vay thương mại, tiêu dùng và thế chấp cũng như mua trái phiếu chính phủ và các loại chứng khoán, giấy tờ có giá khác. Hiệp hội tiết kiệm và cho vay (S&L) và các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ là các tổ chức nhận tiền gửi, có được vốn chủ yếu thông qua tiền gửi tiết kiệm và các khoản đóng góp từ cổ phần.
Các tổ chức này bị hạn chế trong hoạt động và chủ yếu thực hiện các khoản vay thế chấp nhà ở. Theo thời gian, những hạn chế này đã được nới lỏng nên ranh giới giữa các tổ chức lưu ký này và ngân hàng thương mại đã bị xóa nhòa. Những tổ chức trung gian này ngày càng có những hoạt động khá tương đồng và cạnh tranh với nhau. Hiệp hội tín dụng: đây thường là các tổ chức cho vay hợp tác rất nhỏ được tổ chức xung quanh một nhóm khách hàng cụ thể như thành viên công đoàn, nhân viên của một công ty cụ thể, v.
Họ huy động vốn tiền gửi thông qua đóng góp cổ phần (phát hành cổ phiếu) và chủ yếu cho vay tiêu dùng. Bên cạnh đó, Mishkin (2012) còn cho rằng các trung gian tài chính còn có tổ chức nhận tiết kiệm theo hợp đồng như các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí, là các trung gian tài chính thu thập vốn định kỳ theo hợp đồng để đầu tư vào các chứng khoán dài hạn như trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu, sau đó sẽ phải trả lợi tức cố định trong những năm sau với mức thỏa thuận ban đầu. Tóm lại, dựa trên hình thức hoạt động, nội dung hoạt động và cơ sở pháp lý có thể khái quát ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng, hoạt động kinh doanh chủ yếu và thường xuyên là cung ứng một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, đầu tư và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản 1. Chức năng của ngân hàng thương mại 1.
Chức năng trung gian vốn Chức năng trung gian vốn thể hiện vai trò của ngân hàng như một trung gian tài chính, kết nối giữa người có vốn nhàn rỗi và người có nhu cầu về vốn. Các ngân hàng thương mại nhận tiền gửi từ các cá nhân và tổ chức dưới nhiều 3 hình thức khác nhau như tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, và tiết kiệm (Rose, 2010). Việc nhận tiền gửi không chỉ giúp ngân hàng huy động được nguồn vốn lớn từ xã hội mà còn tạo ra một kênh đầu tư an toàn và sinh lời cho người gửi tiền. Các khoản tiền gửi này sau đó được ngân hàng sử dụng để cấp tín dụng cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn.
Ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay đối với các cá nhân và doanh nghiệp. Các khoản vay này có thể là vay tiêu dùng, vay mua nhà, vay kinh doanh, và nhiều loại hình vay khác. Lãi suất cho vay thường cao hơn lãi suất tiền gửi, tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng từ chênh lệch lãi suất này. Hoạt động cho vay không chỉ giúp ngân hàng sinh lời mà còn hỗ trợ các cá nhân và doanh nghiệp có nguồn vốn để đầu tư và phát triển kinh tế.
Ngoài hoạt động cho vay truyền thống, ngân hàng thương mại còn cung cấp nhiều dịch vụ tín dụng khác như chiết khấu, tái chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng, phát hành thẻ tín dụng, và bao thanh toán. Các dịch vụ này giúp ngân hàng đa dạng hóa nguồn thu nhập và cung cấp các giải pháp tài chính linh hoạt cho khách hàng. Ví dụ, dịch vụ bảo lãnh ngân hàng giúp các doanh nghiệp có thể thực hiện các hợp đồng lớn mà không cần phải có sẵn toàn bộ số tiền, trong khi dịch vụ thẻ tín dụng cung cấp cho cá nhân một công cụ thanh toán tiện lợi và linh hoạt. Chức năng trung gian vốn của ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Nó giúp điều hòa dòng vốn, chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi sang những người có nhu cầu về vốn, từ đó thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng. Chức năng này cũng giúp ngân hàng tạo ra lợi nhuận, duy trì hoạt động và phát triển bền vững. Ngoài ra, thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại còn góp phần thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội. Chức năng trung gian vốn của ngân hàng thương mại không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn tạo ra giá trị cho toàn bộ nền kinh tế, giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của người dân.
Chức năng chuyển đổi Trong vai trò là một trung gian tài chính, các ngân hàng thu thập nguồn quỹ từ các chủ thể thặng dư dưới dạng tiền gửi và cho các đối tượng thiếu hụt vay dưới dạng khoản vay. Tiền gửi thường có đặc điểm là quy mô nhỏ, rủi ro thấp và tính thanh khoản cao, trong khi các khoản vay thường lớn hơn, rủi ro 4 cao hơn và kém thanh khoản hơn. Các ngân hàng thu hẹp độ lệch giữa nhu cầu của người cho vay và người vay bằng cách thực hiện chức năng chuyển đổi, bao gồm chuyển đổi quy mô, chuyển đổi kỳ hạn và chuyển đổi rủi ro (Bessis, 2011). Chuyển đổi quy mô: Người tiết kiệm hoặc người gửi tiền thường cho vay các khoản tiền nhỏ hơn so với các khoản tiền lớn mà người vay cần.
Ví dụ, hãy nghĩ đến sự khác biệt giữa số tiền trong tài khoản tiết kiệm của bạn và số tiền cần để mua một ngôi nhà. Các ngân hàng thu thập các khoản tiền gửi nhỏ từ nhiều người tiết kiệm và hợp nhất chúng thành các khoản vay lớn hơn. Chức năng chuyển đổi quy mô này có thể thực hiện được vì các ngân hàng có thể tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô liên quan đến chức năng cho vay và vay mượn, do họ có lợi thế tiếp cận số lượng lớn người gửi tiền so với bất kỳ người đi vay cá nhân nào. Chuyển đổi kỳ hạn: Các ngân hàng chuyển đổi các khoản tiền cho vay ngắn hạn thành các khoản vay trung và dài hạn.
Ví dụ, họ chuyển đổi tiền gửi không kỳ hạn (tức là các khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào) thành các khoản vay thế chấp nhà ở có thời hạn dài hơn (ví dụ một khoản vay mua nhà có thời hạn lên đến 25 năm). Các khoản nợ của ngân hàng (tức là các quỹ thu thập từ người tiết kiệm) chủ yếu có thể hoàn trả theo yêu cầu hoặc trong thời gian ngắn. Ngược lại, các tài sản của ngân hàng (các khoản tiền cho vay) thường được hoàn trả trong trung và dài hạn. Các ngân hàng có khả năng "huy động ngắn hạn và cho vay dài hạn" và trong quá trình này, họ thực hiện việc cân đối kỳ hạn của tài sản và nợ phải trả trong danh mục của mình.
Nếu xảy ra sự không khớp về kỳ hạn giữa tài sản và nợ có thể tạo ra vấn đề về rủi ro thanh khoản, tức ngân hàng không có đủ nguồn tiền thanh khoản để đáp ứng các khoản nợ phải trả. Chuyển đổi thanh khoản: Các ngân hàng thực hiện chức năng quan trọng là tạo ra thanh khoản trong nền kinh tế bằng cách chấp nhận các khoản tiền gửi ngắn hạn có tính thanh khoản cao (như các khoản nợ) và chuyển chúng vào các tài sản dài hạn kém thanh khoản. Điều này cho phép chuyển đổi vốn từ tiết kiệm sang đầu tư. Các ngân hàng tăng cường tính thanh khoản của các công cụ tài chính trong nền kinh tế bằng cách đáp ứng sở thích thanh khoản của người vay và người gửi tiền.
Người đi vay thích có tính thanh khoản trong thời gian dài hơn 5 vì họ cần thời gian và sự linh hoạt để các khoản đầu tư tạo ra dòng tiền, điều này sẽ giúp họ có thể trả nợ. Đây là lý do tại sao người vay thường thích vay trong thời gian dài hơn.