Đồ án: Phân tích Môi trường Trầm tích Miocen giữa Đông Bắc Đứt gãy Sông Lô

Phân tích môi trường trầm tích Miocen hệ tầng Sông Lô: Nghiên cứu chi tiết về thành phần, cấu trúc địa chất và quá trình hình thành nên trầm tích cổ.

Chuyên ngành

Địa Chất Dầu Khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ Án Tốt Nghiệp

2019

94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1. Vị trí địa lý và lịch sử nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò

1.1.1. Vị trí địa lý

1.1.2. Lịch sử nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò

1.1.2.1. Công tác tìm kiếm dầu khí và kết quả nghiên cứu cấu trúc
1.1.2.2. Công tác khoan thăm dò và phát hiện dầu khí

1.2. Lịch sử phát triển địa chất, đặc điểm cấu kiến tạo khu vực

1.2.1. Đặc điểm địa tầng

1.2.2. Đặc điểm cấu trúc

1.2.3. Đặc điểm phát triển kiến tạo

1.2.4. Hệ thống Dầu khí

2. CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP ĐỊA CHẤN ĐỊA TẦNG VÀ ĐỊA TẦNG PHÂN TẬP TRONG MINH GIẢI TÀI LIỆU ĐỊA CHẤN, ĐỊA VẬT LÝ GIẾNG KHOAN

2.1. Phương pháp phân tích địa chấn địa tầng

2.2. Phân tích các tập địa chấn

2.3. Một số đặc điểm địa tầng phân tập liên quan đến phân tích địa chấn địa tầng

2.4. Phân tích tướng địa chấn

2.5. Phân tích tài liệu địa chấn bằng phương pháp địa chấn địa tầng

2.6. Minh giải cấu trúc

2.7. Minh giải địa tầng

2.8. Phân tích tài liệu ĐVLGK kết hợp với tài liệu trầm tích tướng đá cổ địa lý

2.9. Tổng hợp và chính xác hóa kết quả phân tích tài liệu địa chất-ĐVLGK

2.9.1. Chính xác các bề mặt ranh giới tập theo các kết quả phân tích của địa chấn địa tầng và địa tầng phân tập

2.9.2. Thành lập các sơ đồ, bản đồ

2.9.3. Dự đoán môi trường trầm tích và tướng thạch học

3. CHƯƠNG III: CƠ SỞ TÀI LIỆU

3.1. Tài liệu địa chấn

3.2. Tài liệu giếng khoan

3.3. Các tài liệu khác

4. CHƯƠNG IV: ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH MIOCEN GIỮA TRONG KHU VỰC NGHIÊN CỨU

4.1. Phân tích và xác định các mặt ranh giới tập

4.2. Đặc điểm phân bố trầm tích Miocen giữa

4.3. Đặc điểm phân bố tướng địa chấn và môi trường trầm tích

4.4. Dự đoán tiềm năng đá chứa

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phân Tích Môi Trường Trầm Tích Miocen Sông Lô

Phân tích môi trường trầm tích là yếu tố then chốt trong công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí. Việc nghiên cứu và giải mã các đặc điểm trầm tích giúp các nhà địa chất xác định cấu trúc địa tầng, phân tích tướng địa chấn, qua đó luận giải môi trường trầm tích, tướng thạch học và tái hiện lịch sử phát triển địa chất. Phân tích tài liệu địa chấn dựa trên nguyên tắc “địa chấn-địa tầng” kết hợp với địa vật lý giếng khoan là phương pháp hiệu quả trong việc nghiên cứu các bể trầm tích. Khu vực Đông Bắc đứt gãy sông Lô, với địa hình tương đối ổn định và đầy tiềm năng về dầu khí, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nghiên cứu đặc điểm môi trường trầm tích Miocen. Các nghiên cứu trước đây và kết quả khoan thăm dò cho thấy cát kết Miocen giữa có tiềm năng chứa tốt, phân bố rộng và ổn định trong khu vực. Do đó, việc làm sáng tỏ môi trường thành tạo, dự đoán thạch học và tướng đá trở nên vô cùng quan trọng. Đề tài "Phân tích đặc điểm môi trường trầm tích Miocen giữa khu vực Đông Bắc đứt gãy sông Lô" sẽ góp phần giải quyết vấn đề này. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp địa chấn địa tầng, dùng để xác định phân chia các tập địa chấn, các ranh giới địa tầng, các bất chỉnh hợp, cấu trúc địa chất, tướng và môi trường thành tạo trầm tích. Kết hợp với các phương pháp minh giải tài liệu địa vật lý giếng khoan (ĐVLGK) nhằm liên kết địa tầng, phân tích tướng dựa đặc trưng của tổ hợp các đường cong địa vật lý giếng khoan. Kết hợp với các thông tin địa chấn–địa chất khác cho phép minh giải về điều kiện hình thành, dự báo môi trường trầm tích tại vị trí giếng khoan. Đối tượng nghiên cứu là thành tạo trầm tích Miocen giữa và triển vọng dầu khí của nó trong khu vực Đông Bắc đứt gãy sông Lô thuộc rìa bắc bể trầm tích Sông Hồng.

1.1. Vị trí địa lý và bối cảnh địa chất khu vực nghiên cứu

Khu vực Đông Bắc đứt gãy Sông Lô thuộc khu vực Bắc Bể Sông Hồng (BBSH), nằm ở Vịnh Bắc Bộ, giới hạn bởi đứt gãy Sông Lô ở phía Tây Nam và đứt gãy Hải Dương ở phía Đông Bắc. Độ sâu mực nước biển dao động khoảng 20-35m. Khu vực này tương đối bằng phẳng, dốc nhẹ từ Tây sang Đông và từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Mức chênh lệch thủy triều trung bình là 2m.

1.2. Lịch sử nghiên cứu và thăm dò dầu khí ở Sông Lô

Công tác nghiên cứu địa chất – ĐVL khu vực BBSH đã được tiến hành từ những năm đầu thập kỷ 80. Qua từng giai đoạn, khu vực BBSH tại các lô 102,103,106,107 nói chung và lô 102,106 nói riêng được Tổng cục Dầu khí Việt Nam (nay là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) và các Nhà thầu nước ngoài tiến hành thu nổ một khối lượng lớn địa chấn 2D,3D để nghiên cứu cấu trúc địa chất lớp phủ trầm tích Đệ Tam, khoanh vùng cấu tạo và đã khoan thăm dò trên các đối tượng khác nhau nhằm phát hiện, khai thác dầu khí ở khu vực này. Bên cạnh đó còn tiến hành khoan tổng số 11 giếng khoan trong đó có 04 giếng khoan nhằm vào đối tượng cát kết Miocen- Oligocen và 08 giếng nhằm vào đối tượng móng Đá vôi trước Đệ Tam.

II. Thách Thức Trong Phân Tích Môi Trường Trầm Tích Miocen

Việc phân tích môi trường trầm tích Miocen khu vực sông Lô đối mặt với nhiều thách thức. Thứ nhất, sự phức tạp trong cấu trúc địa tầng đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp địa chấn địa tầng, địa vật lý giếng khoanphân tích thạch học. Thứ hai, việc thiếu hụt các mẫu trầm tíchdữ liệu giếng khoan chi tiết gây khó khăn cho việc xác định chính xác các tướng trầm tíchmôi trường thành tạo. Thứ ba, sự biến đổi nhanh chóng của môi trường trầm tích trong thời gian địa chất ngắn đòi hỏi các phương pháp phân tích phải có độ phân giải cao. Cuối cùng, việc đánh giá chính xác tiềm năng dầu khí của các tập trầm tích Miocen đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về hệ thống dầu khí, bao gồm đá sinh, đá chứa, đá chắnbẫy dầu khí. Vì vậy, các nghiên cứu chi tiết về địa hóa trầm tích cần thiết để xác định các đơn vị đá mẹ. Công tác minh giải tài liệu địa chấn chi tiết là yêu cầu tiên quyết để nhận diện các bẫy địa chất tiềm năng. Các phương pháp phân tích thành phần thạch họccấu trúc trầm tích cũng cần được áp dụng rộng rãi để có được kết quả chính xác nhất.

2.1. Tính phức tạp của cấu trúc địa tầng Bể Sông Hồng

Bể Sông Hồng là một bể kéo toạc kéo dài theo hướng TB-ĐN. Vùng Tây Bắc bao gồm MVHN và một số lô phía TB của Vịnh Bắc Bộ nổi bật là cấu trúc uốn nếp phức tạp kèm nghịch đảo kiến tạo trong Miocen. Điều này gây khó khăn trong việc xác định và liên kết các ranh giới địa tầng, cũng như phân tích chính xác đặc điểm cấu trúcmôi trường trầm tích.

2.2. Hạn chế về tài liệu địa chất và địa vật lý

Dù đã có nhiều hoạt động nghiên cứu và thăm dò, khu vực sông Lô vẫn còn thiếu hụt các mẫu trầm tíchdữ liệu giếng khoan chi tiết. Điều này gây khó khăn cho việc hiệu chỉnh và kiểm chứng kết quả phân tích địa chấn địa tầng, cũng như xác định chính xác các tướng trầm tíchmôi trường thành tạo.

III. Phương Pháp Địa Chấn Địa Tầng Chi Tiết Hướng Dẫn

Phương pháp địa chấn địa tầng là một trong những công cụ hữu hiệu để phân tích môi trường trầm tích. Phương pháp này dựa trên việc phân tích các đặc điểm của trường sóng địa chấn, bao gồm hình dạng và phân bố của các yếu tố phản xạ, tính liên tục, biên độ, tần số và vận tốc sóng. Từ đó, các nhà địa chất có thể xác định các đơn vị địa tầng, các ranh giới phân chia, đặc điểm cấu trúc, hệ thống đứt gãy và tướng địa chấn. Việc phân tích tướng địa chấn cho phép dự đoán môi trường trầm tíchthạch học trầm tích. Kết hợp với các tài liệu địa vật lý giếng khoanphân tích mẫu đá, phương pháp địa chấn địa tầng giúp tái tạo lịch sử phát triển địa chất và đánh giá tiềm năng dầu khí của khu vực. Minh giải cấu trúc để xác định được các tập chứa liên quan đến các bẫy cấu tạo, minh giải địa tầng nhằm phát hiện và xác định sự phân bố các tập chứa liên quan đến các bẫy địa tầng và bẫy cấu trúc.

3.1. Phân tích các lát cắt địa chấn và xác định ranh giới tập

Phân tích các lát cắt địa chấn là bước đầu tiên trong phương pháp địa chấn địa tầng. Bước này bao gồm việc xác định sự phân bố của các phân vị địa tầng (tập, phân tập, hệ thống trầm tích), các ranh giới phân chia, đặc điểm cấu trúc và hệ thống đứt gãy. Việc xác định chính xác các ranh giới này là vô cùng quan trọng để phân chia các tập địa chấn và phân tích môi trường trầm tích.

3.2. Phân tích tướng địa chấn và dự báo môi trường trầm tích

Phân tích tướng địa chấn là quá trình minh giải chi tiết các đặc điểm đặc trưng của sóng trong các tập nhằm xác định sự khác biệt của chúng, khoanh vùng và thể hiện trên các bản đồ, từ đó có thể dự báo được môi trường thành tạo và thành phần thạch học của đất đá mà đã hình thành nên trường sóng địa chấn ghi được.

3.3. Xây dựng bản đồ cấu tạo và phân bố tướng trầm tích

Xây dựng các bản đồ cấu tạo, bản đồ phân bố tướng trầm tích. Đưa ra các nhận định địa chất trên cơ sở phân tích địa chấn địa tầng. Các kết quả phân tích được thể hiện dưới dạng bản đồ và các mặt cắt địa chất.

IV. Sử Dụng Tài Liệu Địa Vật Lý Giếng Khoan Hiệu Quả Bí Quyết

Tài liệu địa vật lý giếng khoan (ĐVLGK) đóng vai trò quan trọng trong việc hiệu chỉnh và kiểm chứng kết quả phân tích địa chấn địa tầng. Các đường cong ĐVLGK, như Gamma Ray (GR), SP, điện trở suất, và mật độ, cung cấp thông tin chi tiết về thành phần thạch học, độ rỗng, độ thấm, và môi trường trầm tích. Việc kết hợp tài liệu ĐVLGK với phân tích địa chấn giúp các nhà địa chất xác định chính xác các tướng trầm tích, hiệu chỉnh các ranh giới địa tầng, và đánh giá tiềm năng dầu khí. Phân tích tài liệu ĐVLGK kết hợp với tài liệu trầm tích tướng đá cổ địa lý sẽ giúp quá trình dự đoán chính xác hơn.

4.1. Phân tích các đường cong ĐVLGK GR SP điện trở suất

Các đường cong ĐVLGK (GR, SP, điện trở suất, mật độ) cung cấp thông tin chi tiết về thành phần thạch học, độ rỗng, độ thấm, và môi trường trầm tích. Đường cong GR thường được sử dụng để xác định các tướng trầm tích, trong khi đường cong điện trở suất và mật độ giúp đánh giá độ rỗng và độ thấm của đá chứa.

4.2. Liên kết địa tầng và xác định ranh giới tập

Sử dụng tài liệu ĐVLGK để liên kết địa tầng và xác định các ranh giới tập. Bước này bao gồm việc xác định và liên kết các bề mặt ranh giới chính, nổi trội như mặt ngập cực đại, ranh giới tập trong từng giếng khoan, liên kết chi tiết các phân vị địa tầng phân tập trong từng tập.

4.3. Phân tích tướng và môi trường trầm tích từ ĐVLGK

Việc giải đoán GR cho thân cát được làm như sau: nhận diện thân cát sau đó minh giải các tướng của thân cát này bằng cách nghiên cứu các đường cong GR, các kiểu ranh giới dưới và trên (chuyển từ từ hay đột ngột của giá trị GR) và bề dày của lớp cát. Các kiểu đường cong liên quan đến bề dày của thân cát có thể chúng ta biết về môi trường cát đã được lắng đọng.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Kết Quả Nghiên Cứu Môi Trường Miocen

Các kết quả nghiên cứu môi trường trầm tích Miocen khu vực sông Lô có ý nghĩa quan trọng trong công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí. Việc xác định chính xác các tướng trầm tíchmôi trường thành tạo giúp các nhà địa chất dự đoán tiềm năng dầu khí của các tập trầm tích Miocen, cũng như xác định các khu vực có khả năng chứa dầu khí cao. Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu cũng cung cấp thông tin quan trọng cho việc xây dựng mô hình địa chất và dự báo sản lượng dầu khí.

5.1. Xác định tiềm năng chứa của tập cát kết Miocen

Trên cơ sở các kết quả phân tích địa chấn địa tầngđịa vật lý giếng khoan, có thể xác định tiềm năng chứa của tập cát kết Miocen. Việc xác định các khu vực có độ rỗng và độ thấm cao là vô cùng quan trọng để đánh giá tiềm năng dầu khí của khu vực.

5.2. Dự đoán các khu vực tiềm năng về dầu khí

Việc xác định chính xác các tướng trầm tíchmôi trường thành tạo giúp các nhà địa chất dự đoán các khu vực tiềm năng về dầu khí. Các khu vực có sự hiện diện của đá sinh, đá chứa, đá chắnbẫy dầu khí là những mục tiêu ưu tiên trong công tác tìm kiếm thăm dò.

VI. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Môi Trường Sông Lô

Phân tích môi trường trầm tích Miocen khu vực sông Lô là một quá trình phức tạp đòi hỏi sự kết hợp giữa nhiều phương pháp. Phương pháp địa chấn địa tầngđịa vật lý giếng khoan là những công cụ hữu hiệu để phân tích môi trường trầm tích, tuy nhiên cần có sự hiệu chỉnh và kiểm chứng bằng các dữ liệu địa chất khác. Trong tương lai, cần có các nghiên cứu chi tiết hơn về địa hóa trầm tích, phân tích thạch học, và mô phỏng trầm tích để nâng cao độ chính xác của các dự báo môi trường trầm tíchtiềm năng dầu khí.

6.1. Tầm quan trọng của các nghiên cứu liên ngành

Nghiên cứu môi trường trầm tích cần có sự kết hợp giữa các ngành địa chất, địa vật lý, hóa học, và sinh học. Sự phối hợp giữa các chuyên gia từ các lĩnh vực khác nhau sẽ giúp có được cái nhìn toàn diện và chính xác về môi trường trầm tích.

6.2. Hướng nghiên cứu và công nghệ mới

Trong tương lai, cần có các nghiên cứu chi tiết hơn về địa hóa trầm tích, phân tích thạch học, và mô phỏng trầm tích để nâng cao độ chính xác của các dự báo môi trường trầm tíchtiềm năng dầu khí. Ngoài ra, cần áp dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạohọc máy để phân tích dữ liệu địa chấtđịa vật lý một cách hiệu quả hơn.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CHUNG KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý và lịch sử nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò 1. Vị trí địa lý Khu vực Đông Bắc đứt gãy sông Lô thuộc khu vực Bắc Bể Sông Hồng (BBSH), nằm ở Vịnh Bắc Bộ được giới hạn bởi phía Tây Nam (TN) là đứt gãy Sông Lô và phía Đông Bắc (ĐB) là đứt gãy Hải Dương. Độ sâu mực nước biển tương đối dao động trong khoảng 20-35m.

Đáy biển nhìn chung tương đối bằng phẳng, dốc nhẹ từ Tây sang Đông và từ Tây Bắc (TB) xuống Đông Nam (ĐN). Mức chênh lệch thuỷ triều trung bình của khu vực là 2m.1: Vị trí và giới hạn khu vực nghiên cứu 1. Lịch sử nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò Công tác nghiên cứu địa chất – ĐVL khu vực BBSH thuộc phần phía Bắc Vịnh Bắc Bộ được tiến hành từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỉ trước. Qua từng giai đoạn, khu vực BBSH tại các lô 102,103,106,107 nói chung và lô 2 102,106 nói riêng được Tổng cục Dầu khí Việt Nam nay là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (1978-1987) và các Nhà thầu nước ngoài như Total (1989-1991), Idemitsu (1993-1995), PCOSB(2003-3/2009) tiến hành thu nổ một khối lượng lớn địa chấn 2D,3D với mật độ khác nhau để nghiên cứu cấu trúc địa chất lớp phủ trầm tích Đệ Tam, khoanh vùng cấu tạo và đã khoan thăm dò trên các đối tượng khác nhau nhằm phát hiện, khai thác dầu khí ở khu vực này.

Bên cạnh đó còn tiến hành khoan tổng số 11 giếng khoan trong đó có 04 giếng khoan nhằm vào đối tượng cát kết Miocen- Oligocen và 08 giếng nhằm vào đối tượng móng Đá vôi trước Đệ Tam. Kết quả công tác thăm dò địa chấn có thể được tóm lược như sau : 1. Công tác tìm kiếm dầu khí và kết quả nghiên cứu cấu trúc • Giai đoạn 1983-1984: Tổng cục Dầu khí Việt Nam tiến hành thu nổ địa chấn 2D theo mạng lưới tuyến nghiên cứu khu vực tỷ lệ 16x16 km tại các lô 102, 103, 106 ,107 và mạng lưới tuyến 2x2 km thuộc khu vực trung tâm các lô 102,103 và khoảng 800km tuyến tại một phần lô 106 với bội quan sát 48 bằng tàu địa chấn Poisk và Iskachel của Liên Xô cũ. Kết quả minh giải đã vẽ được Bản đồ cấu trúc địa chất cho phép đánh giá bề dày, các yếu tố cấu-kiến tạo chủ yếu của trầm tích Kainozoi thuộc Miền Võng Hà Nội(MVHN) và phần biển Vịnh Bắc Bộ.

Đây là cơ sở để đánh giá tiềm năng dầu khí và triển khai công tác thăm dò dầu khí tiếp theo tại khu vực Thềm lục địa phía Bắc Việt Nam. • Giai đoạn 1989 -1990: Nhà thầu Total đã tiến hành thu nổ địa chấn 2D với mạng lưới từ 1x1.5km , 2x2 km đến 4x6 km tại các lô 103,106 và một phần lô 102, 107 với khối lượng tổng cộng khoảng 9200 tuyến, bội quan sát 60. Kết quả nghiên cứu cho phép phát hiện một loạt các cấu tạo uốn nếp trong lát cắt trầm tích Miocen- Oligocen. Total đã chọn được 3 cấu tạo: H(lô 103), G (nằm vắt qua lô 102,103) là dạng bẫy khép kín 4 chiều trong lát cắt iocen và cấu tạo PA ( lô 107) khép kín 4 chiều trong lát cắt Oligocen để khoan thăm dò.

• Giai đoạn 2001- 3/2009: nhà thầu PCOSB tiến hành công tác thăm dò tỉ mỉ địa chấn 3D, bổ sung địa chấn 2D trên các cấu tạo được đánh giá triển vọng dầu khí với khối lượng tổng cộng 1,050 km2 địa chấn 3D và gần 2,200 km tuyến địa chấn 2D. Tài liệu địa chấn 2D, 3D đã cho phép chi tiết hóa những cấu tạo hình thành trong điều kiện trầm tích và hoạt động kiến tạo phức tạp như cấu tạo Thái Bình, Hồng Hà (lô 102) và cụm cấu tạo trong móng carbonat nứt nẻ Hàm Rồng – Hậu Giang (lô 106) đặc trưng cho dạng bẫy khép kín. 3 Khu vực phía Đông của lô 106, tài liệu địa chấn mới có dạng lưới khảo sát sơ bộ của Total giai đoạn 1989 – 1990 và một số tuyến thu nổ bổ sung năm 2007 của PCOSB. Công tác khoan thăm dò và phát hiện dầu khí Tại phần Đông Bắc Bể Sông Hồng, trong giai đoạn 1989-2009 các công ty Total, Petrovietnam, Idemitsu và Petronas đã khoan tổng cộng khoan tổng số 11 giếng khoan trong đó có 04 giếng khoan nhằm vào đối tượng cát kết Miocen- Oligocen và 07 giếng nhằm vào đối tượng móng Đá vôi trước Đệ Tam (Bảng 1.

Dựa vào các kết quả minh giải tài liệu địa chấn và địa vật lý giếng khoan trong khu vực đã xác định được một số cấu tạo triển vọng và có tiềm năng. Có thể tổng hợp và phân ra các phát hiện chứa khí và các phát hiện chứa dầu như sau: Các phát hiện chứa khí: Cấu tạo Bạch Long Năm 2006, PIDC khoan giếng PV-107 – BAL – 1X phát hiện khí trong trầm tích Miocen giữa-dưới. Cấu tạo Thái Bình (Petronas - 2006) Cấu tạo có dạng vòm khép kín 4 chiều (địa chấn 3D, PCOSB-2005) trong lát cắt Miocen – Oligocen. Phát hiện khí trong trầm tích Miocen giữa-dưới.

Các phát hiện chứa dầu : Cấu tạo Yên Tử (Petronas-2006) Cấu tạo có dạng bẫy địa tầng trong trầm tích Miocen giữa và dạng móng đá vôi trước Kainozoi. Phát hiện khí-condensate trong cát kết hạt thô Miocen giữa.2: Bản đồ phân bố các cấu tạo triển vọng và tiềm năng lô 102&106 (Nguồn: PVEP) Bảng 1.1: Khối lượng khoan thăm dò khu vực Bắc Bể Sông Hồng (Nguồn: PVEP) Chiều sâu STT Tên GK Đối tượng Lô Ghi chú (m) 1 102-CQ-1X 3021 Mio-Oli Idemitsu/1994 2 102-TB-1X 2900 Mio-Oli PCOSB/2006, phát hiện khí 102 3 102-SP-1X 2605 Mio-Oli PVEP/2014 4 106-YT-1X 1967 Carb- PCOSB/2004, phát hiện Móng dầu 5 106-HR-1X 3767 Carb- PCOSB/2008, phát hiện Móng dầu 7 106-YT-2X 2636 Carb- PCOSB/2009 Móng 8 106-DS-1X 3201 Carb- PCOSB/2009 Móng 5 9 106-HR-2X 3920 Carb- PCOSB/2009 Móng 106 10 106-HRN-1X 4148 Carb- PVEP/2013, phát hiện thân Móng dầu chứa mũ khí 11 106-HRD-1X 4038 Carb- PVEP/2015, phát hiện khí Móng 12 106-HRD-2X 3392 Oligocen PVEP/2015 Cấu tạo Hàm Rồng trung tâm (Petronas - 2009) Cấu tạo là khối nhô móng đá vôi trước Oligocen được phủ bởi trầm tích Oligocen (địa chấn 3D, PCOSB-2005). Phát hiện dầu trong móng và nhận được dòng dầu 773 (4.đ và 170000 (6,0 triệu bộ khối) khí/ng. Lịch sử phát triển địa chất, đặc điểm cấu kiến tạo khu vực 1.

Đặc điểm địa tầng Địa tầng của BBSH tương đối phức tạp bao gồm đá tróng trước Đệ Tam, trầm tích Paleogen, trầm tích Neogen và trầm tích Pliocen-Đệ Tứ. Cột địa tầng tổng hợp của khu vực được thể hiện ở hình 1. Các thành tạo địa chất trong phạm vi nghiên cứu gồm: thành tạo móng trước Kainozoi và trầm tích Eocen-Oligocen (thuộc hệ tầng Phù Tiên – Đình Cao), trầm tích Miocen (thuộc hệ tầng Phong Châu, Phù Cừ, Tiên Hưng) và trầm tích Neogen-Đệ Tứ (thuộc hệ tầng Vĩnh Bảo, Kiến xương, Hải Dương). Tham gia vào cấu trúc địa chất phần TB Bể Sông Hồng, bao gồm 2 phần: - Móng là các đá biến chất, trầm tích, magma (phun trào và xâm nhập) có tuổi từ tiền Campri - Mesozoic lộ ra trên bề mặt ở các đới Quảng Ninh, đới Nam Định, đới Ninh Bình, đới Sông Mã và đới Sầm Nưa, còn trong phần TB bể Sông Hồng thì chúng bị chôn vùi ở các độ sâu khác nhau.

- Lớp phủ trầm tích Rift hoặc kéo toạc và rìa lục địa thụ động tuổi Kainozoi. Các thành tạo trầm tích Kainozoi chủ yếu phân bố ở TB bể Sông Hồng. Đá móng trước Kainozoi 6 Các thành tạo móng trước Kainozoi ở khu vực lô 102&106 là sự phân dị, lún chìm phức tạp của nhiều loại đá có tuổi khác nhau, cụ thể là phía Đông Bắc đứt gãy sông Lô là sự lún chìm của các đá Cacbonat dạng khối và lục nguyên tuổi Paleozoi muộn bị phong hóa và nứt nẻ mạnh như các đá lộ ra ở Hạ Long và Đồ Sơn. Chúng được phát hiện ở các giếng khoan Yên Tử, Hàm Rồng, Đồ Sơn.

Còn ở phía TN của đứt gãy Sông Lô có thể là các thành tạo tiền Cambri biến chất cao giống như đá ở núi Gôi-Nam Định (GK15). Thạch học đá móng trước Kainozoi gồm nhiều loại từ trầm tích biến chất đến granit, cacbonat nứt nẻ tuổi Mesozoi-Paleozoi đến tiền Cambri. Ngoài đá vôi phân lớp, đá vôi dạng khối, dolomit còn gặp các thành phần khác như quartzit ở trên nóc móng cacbonat (ở giếng khoan 106-DS-1X, 106-HR-1X, 106-YT-1X). Các thành tạo trầm tích Kainozoi Các thành tạo trầm tích Kainozoi có mặt ở khu vực Đông Bắc đứt gãy sông Lô bao gồm : Trầm tích Eocen - Hệ tầng Phù Tiên (E2 pt): Ở MVHN được phát hiện tại giếng khoan 104 với các tập cát kết hạt thô màu đỏ xen kẽ với cuội kết và cát kết dạng khối thành tạo trong điều kiện lục địa và được đặt tên là hệ tầng Phù Tiên.

Ngoài khơi bể Sông Hồng, giếng khoan 106-HR-1X gặp trầm tích Eocen (?), phù hợp với dự đoán theo tài liệu địa chấn trong lát cắt trầm tích này có thể nằm ngay trên móng địa hào hoặc ở đáy các trũng sâu 3500-5000m. Trầm tích Oligocen - Hệ tầng Đình Cao (E3 đc):được phát hiện nhiều ở MVHN, ngoài khơi có các giếng khoan 107-BAL-1X,106-BAL-1X, 106-HR- 1X,. Trầm tích Oligocen được hình thành trong môi trường đầm hồ chứa nhiều sét giàu vật chất hữu cơ nên có khả năng sinh dầu tốt như tập sét Đông Ho ở Quảng Ninh, tập sét Oligocen gặp ở giếng khoan PV-XT-1X(MVHN). Thành phần bao gồm cát kết xám sáng, sáng xẫm, hạt nhỏ đến vừa, ít hạt thô, đôi khi gặp cuội kết, sạn kết có độ lựa trọn trung bình đến tốt, gắn kết chắc bằng xi măng cacbonat, sét và oxit sắt.

Sét kết xám sáng, xám sẫm, đôi chỗ có các thấu kính than hoặc các lớp kẹp mỏng sét vôi. Trầ m tić h Oligocen hệ tầng Đin ̀ h Cao phủ bấ t chỉnh hợp lên hệ tầng Phù Tiên. Trầm tích Miocen 7 Hình 1.3 : Cột địa tầng tổng hợp Bắc Bể Sông Hồng (Nguồn: VPI) 8 Trầm tích Miocen sớm - Hệ tầng Phong Châu (N11 pc): Phân bố chủ yếu ở diện tích của lô 102 và một phần phía Tây của lô 106. Bề dày thay đổi từ 300m đến 600m ở rìa phía Tây lô 106 và tăng dần về phía Đông và ĐN, bề dày trầm tích lớn nhất tại trũng trung tâm bể Sông Hồng nằm phía Nam của lô 102.

Điều này cho thấy bể Miocen sớm phát triển và sụt lún mạnh dần, làm tăng lượng trầm tích về phía trung tâm bể. Trầm tích Miocen sớm đã gặp ở các giếng khoan trong đất liền và tại lô 102&106. Lát cắt trầm tích này bao gồm các lớp cát kết hạt mịn xen kẽ các lớp bột sét kết mỏng có chứa than, hoặc lớp đá vôi mỏng, được hình thành trong môi trường châu thổ và biển ven bờ, biển nông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ