CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Thanh điệu và các khái niệm liên quan 1. Khái niệm thanh điệu Thuật ngữ thanh điệu (tone) theo một ý nghĩa khái quát nhất trước tiên gần như là đồng nghĩa với “cao độ”. Vốn khái niệm thanh điệu xuất phát từ các kiến thức ngôn ngữ học châu Âu, người ta thường lấy ví dụ từ (âm tiết) “no” (từ phủ định có nghĩa là “không”) của tiếng Anh, có thể được phát âm hoặc là với một thanh điệu đi xuống (trong trường hợp nó rất có thể coi như là một lời từ chối hay một lời bác bỏ xác định) hoặc với một thanh điệu đi lên (như một câu hỏi, kiểm tra xem liệu lời từ chối hay lời bác bỏ có thật là như thế hay không).
Một cách chính xác hơn, chúng ta có thể xác định vô số các cao độ hoặc các mô hình cao độ khác nhau trong một ngôn ngữ chẳng hạn như tiếng Anh, và có thể được coi là “các thanh điệu” của tiếng Anh. Ở đây, thuật ngữ này có một giá trị có tính chất hệ thống, vì chúng ta chỉ nhận ra một số lượng hữu hạn các thanh điệu rời rạc – chẳng hạn như cao, thấp, lên, xuống – vốn có chức năng trong ngôn ngữ. Theo ý nghĩa khác, thanh điệu không chỉ đồng nghĩa với cao độ, vì một thanh điệu trong một hệ thống ngôn ngữ sẽ được nhận ra theo một cách kiểu như nó đối lập với các thanh điệu khác trong hệ thống trong khi thay đổi tuỳ thuộc vào bối cảnh. Vì thế mà trong tiếng Phổ thông Trung quốc, mà dường như đối với những người nói tiếng Anh có thể là một mục từ đơn /ma/ nhưng trên thực tế lại là 4 từ khác nhau, phụ thuộc vào thanh điệu của nó (McCawley, tr.
Tương tự như vậy, người ta thấy các ngôn ngữ có tồn tại hệ thống thanh điệu, nổi bật là: tiếng Hausa, Yoruba và các ngôn ngữ Tây Phi khác; các ngôn ngữ vùng Đông Nam Á như tiếng Thái, tiếng Việt, tiếng Miến Điện và nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác. Các tiêu chí phân loại và miêu tả thanh điệu Nhiều ngôn ngữ trên thế giới xưa nay thường được xem là ‘các ngôn ngữ thanh điệu’. Định nghĩa chính xác về một ngôn ngữ thanh điệu hiện vẫn còn chưa ngã ngũ nhưng nó thường trực ở nhiều nhà ngôn ngữ là nhấn mạnh đến sự cần yếu có tính từ vựng: trong một ngôn ngữ thanh điệu, thanh điệu là " một đặc trưng của từ được miêu tả theo các cao độ bắt buộc hay các âm tiết hay các chuỗi cao độ đối với các hình vị hay các từ" (Cruttenden 1986); hay, một cách phổ thông hơn, cao độ "phân biệt ý nghĩa của từ" (Pike 1948). Điều này xét trong sự đối sánh với một ngôn ngữ chẳng hạn như tiếng Anh, trong đó cao độ thực sự là có tính chất chức năng và là ngôn ngữ trong đó một người có thể nói một cách bình đẳng về các thanh điệu khác nhau, nhưng trong đó các thanh điệu không trực tiếp gắn liền với ý nghĩa từ vựng.
Người ta cho rằng những người nói các ngôn ngữ thanh điệu có thể coi thanh điệu là một bộ phận quan trọng của âm tiết (hay hình vị hay từ). Hầu hết các ngôn ngữ thế giới trên thực tế đều có thanh điệu theo nghĩa này, bao gồm đa số các ngôn ngữ phía đông châu Á chẳng hạn như tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Miến và tiếng Thái, cũng như một tỉ lệ tương xứng có thật các ngôn ngữ châu Phi, châu Mỹ La Tinh và Papua Tân Guinea. Pike (1948) vẫn giữ cách giới thiệu cổ điển về bản chất của các ngôn ngữ thanh điệu và các chiến lược phân tích và miêu tả. Trái lại hầu hết mọi thông tin đều có sẵn trong nhiều bài viết về các ngôn ngữ cụ thể hay những vấn đề chung về lý thuyết và miêu tả; một bộ sưu tập đặc biệt hữu ích đã được công bố là Fromkin (1978).
Pike đề ra hai tiêu chí để khu biệt và miêu tả giữa các hệ thống thanh điệu: âm vực (register) (hay cao độ - bằng ngang <level-pitch>) và đường nét (contour) (hay cao độ - lướt <gliding-pitch>). Tiêu chí âm vực Trong một hệ thống âm vực có nhiều mức cao độ khu biệt, thường là hai hoặc ba và có thể không bao giờ quá bốn. Các mức này tất nhiên có tính tương đối lẫn nhau đúng hơn là các giá trị tuyệt đối, sao cho một thanh cao, chẳng hạn, sẽ được tiếp nhận là một âm tiết mang thanh thấp hay trung bình ở kề cận bất kỳ nào. Mặt khác, trong một hệ thống đường nét nó là sự vận động hay trượt lướt cao độ 11 vốn rất đặc trưng: thế đối lập sẽ nằm trong các mô hình chẳng hạn như xuống, lên và ‘uốn’ (xuống-lên) đúng hơn là giữa các cấp độ hay các chiều cao tương đối.
Cũng theo Pike, cần phải phân biệt hai loại ngôn ngữ thanh điệu này bởi vì có liên quan đến phương pháp phân tích. Trong khi có thể xác định các thanh điệu khác nhau của một ngôn ngữ thanh điệu theo đường nét đơn thuần chỉ bằng cách nghe chúng, thì một hệ thống âm vực nhìn chung sẽ cần có các điểm quy chiếu mà đổi lại có thể đánh giá được các mức. Do vậy các âm tiết đơn mang thanh ngang thấp, trung bình hoặc cao sẽ không thể xác định được một cách rạch ròi trừ phi kề cận với một mức “chỉ tố”. Do đó Pike nhấn mạnh tầm quan trọng của các khung thanh điệu mà cung cấp cho một bối cảnh ấn định.
Giả sử, chẳng hạn, chúng ta đã thành lập trong một ngôn ngữ thanh điệu một tiền tố xác định, nghĩa là ‘của tôi’, luôn mang thanh thấp. Vậy thì nếu chúng ta sử dụng tiền tố này làm khuôn, yêu cầu một người nói bản ngữ phát âm nhiều ngữ đoạn khác nhau chẳng hạn như “ngôi nhà của tôi”, “vườn của tôi”, “rau của tôi” và vân vân, chúng ta có thể thấy thanh điệu của mỗi danh từ có quan hệ đến tiền tố thanh điệu thấp. Nếu âm tiết đầu của danh từ ở mức cao độ (ít hoặc nhiều) giống như tiền tố thì chúng ta có thể xác định nó là thanh thấp; nếu nó cao hơn rõ rệt thì nó phải là trung bình hoặc cao. Việc dùng một khuôn khác, như một tiền tố sinh ra một thanh trung bình, sẽ khiến chúng ta có thể phân loại ra các thanh trung bình với các thanh cao, và để kiểm tra các thanh thấp, mà có lẽ sẽ là thấp hơn so với thanh trung bình đứng trước.
Quy trình này rõ ràng là khó nhọc, bởi vì một người sẽ phải xác định các khuôn phù hợp để bắt đầu và sau đó chạy các danh sách với số lượng lớn thông qua chúng, nhưng nó thường cho một cách theo nguyên tắc cứng nhắc đưa một miêu tả thanh điệu dựa trên một cơ sở chắc chắn một cách hữu lý. Tuy nhiên hai kiểu/loại ngôn ngữ thanh điệu này không khác nhau nhiều như lập luận này đưa ra. Ở vị trí trước hết, các hệ thống âm vực hiếm khi nếu có một hệ thống có chứa một vài thanh nhất quán và ngang một cách hoàn hảo. Những ảnh hưởng của độ nghiêng này có thể là cái mà trong lý thuyết là một chuỗi các thanh điệu giống hệt nhau đích thực rơi vào cao độ, và có thể là các quá trình đồng hoá rất cụ thể trong đó một thanh trung bình được hiện thực hoá thành một thanh đi lên giữa một thanh thấp và một thanh cao, hoặc là một thanh cao được hiện thực hoá thành một thanh xuống cao nếu đứng trước một thanh thấp, và 12 vân vân.
Trên thực tế, tài liệu về các ngôn ngữ thanh điệu cho thấy những tương tác giữa các thanh điệu là có tính điển hình hơn là bất thường, và chính Pike đã dành sự quan tâm lớn đến cái mà ông gọi là những xáo trộn (perturbation) của thanh điệu hay sự biến thanh (sandhi) thanh. Ông miêu tả những hiện tượng như vậy một cách chi tiết đối với hai ngôn ngữ thuộc miền nam Mexico, là tiếng Mixteco và tiếng Mazateco (1948, các chương 7, 8). Tiêu chí đường nét Một thực tế ở các ngôn ngữ thanh điệu theo âm vực là các lựa chọn về thanh điệu ở các âm tiết bị chế ngự bởi các mô hình đường nét. Ví dụ, Leben (1978) đề nghị có năm mô hình đường nét cơ bản trong tiếng Mende, một ngôn ngữ thuộc Sierra Leone.
Năm mô hình đó là: (1) cao; (2) thấp; (3) cao-thấp; (4) thấp-cao; (5) thấp-cao-thấp. Nhưng năm mô hình này có thể được phủ lên bởi các từ có trường độ khác nhau, sao cho một từ đơn tiết có mô hình (3) thực sự có cao độ đi xuống, trong khi đó một từ ba âm tiết có cùng mô hình sẽ có cao độ cao-thấp-thấp. Các ví dụ đối với mô hình (4) trên các từ có độ dài khác nhau là (Leben 1978): mbu (‘lúa’) (đơn tiết với cao độ đi lên) fande (‘bông’) (âm tiết thứ nhất thấp, âm tiết thứ hai cao) ndavula (‘cái ná’) (âm tiết thứ nhất thấp, các âm tiết khác cao) Vì vậy các trượt lướt hay đường nét cao độ hoàn toàn không bị ngoại trừ ra khỏi các ngôn ngữ thanh điệu theo âm vực. Điều quan trọng chính là ở chỗ các trượt lướt này có thể được phân tích thành các hiện thực hoá (các chuỗi) các thanh ngang.
Mặt khác, các hệ thống đường nét thường nếu không luôn luôn bao gồm các thanh bằng /ngang và gần bằng ngang. Một trong số bốn thanh điệu của tiếng Miến, chẳng hạn, được miêu tả ngang thấp. Quả thực, mặc dù cao độ có thể luôn là nét nổi trội, các yếu tố khác, chẳng hạn như trường độ và sự đột ngột (abruptness), là cần yếu. Bốn thanh điệu, như Tun (1982) đã mô tả là: (1) ngang thấp; (2) cao lên-xuống; (3) cao đi xuống; (4) cao đi xuống, có kết thúc đột ngột.
Không ít hơn ba trong số năm thanh điệu tiếng Thái truyền thống miêu tả là cao, trung bình và thấp. Các bằng chứng thực nghiệm đề nghị rằng những người nghe Thái chắc chắn phân biệt cả năm thanh ở dạng tách rời, mà không cần có một khung quy chiếu bất kỳ nào thuộc loại mà cần thiết trong phân tích về một hệ thống âm vực. 13 Thực tế, sự khác nhau quan trọng giữa hai loại hệ thống thanh điệu có thể là ở chỗ trong các hệ thống đường nét thanh điệu là một thuộc tính của các âm tiết còn trong các hệ thống âm vực thanh điệu là thuộc tính của các đơn vị lớn hơn chẳng hạn như các từ.