Chương 1 nêu lên vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi và phạm vi nghiên cứu của luận văn. Chương 2 giới thiệu chu trình phát triển của một dự án và nêu các quan điểm, các phương pháp phân tích dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột. Chương 3 giới thiệu cấu trúc và thông tin khái quát của dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột. Trong Chương 4 trình bày các thông số tài chính cơ bản sẽ được biến đổi sang giá kinh tế để dùng trong phân tích kinh tế, đồng thời xác định tổng số tiền ngân sách Nhà nước sẽ phải chi cho dự án.
Chương 5, tập trung phân tích tính khả về mặt kinh tế của dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột. Tiếp đến trong Chương 6 xem xét tính rủi ro của dự án và xác định các đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dự án. Cuối cùng, Chương 7 trình bày một số kết luận và kiến nghị cho Nhà nước về việc quyết định đầu tư dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột, đồng thời nêu lên các hạn chế của luận văn. -3- Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này giới thiệu tổng quan về chu trình phát triển của một dự án, các quan điểm và các phương pháp phân tích dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột.1 Chu trình phát triển một dự án Theo Vũ Công Tuấn (2002) thì chu trình phát triển của một dự án bao gồm các giai đoạn chính mà một dự án cần trải qua từ lúc ý tưởng đầu tư hình thành cho đến khi dự án kết thúc, gồm 3 giai đoạn chính là chuẩn bị đầu tư, đầu tư và vận hành.1 Chuẩn bị đầu tư Bước 1 của giai đoạn chuẩn bị đầu tư là nhận ra cơ hội đầu tư, xem xét sự phù hợp của cơ hội đầu tư với chiến lược phát triển của đơn vị, địa bàn, quốc gia và thế giới.
Dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột là một cơ hội đầu tư, phù hợp với chiến lược phát triển thành phố Buôn Ma Thuột thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên năm 2025. Bước 2 của giai đoạn chuẩn bị đầu tư là nghiên cứu tiền khả thi và khả thi với các nội dung về tài chính – kinh tế – xã hội – thị trường – kỹ thuật – nhân sự – lợi ích, giúp nhà đầu tư loại bỏ bớt các phương án đầu tư không chắc chắn hoặc kém khả thi hơn. Bước cuối cùng trong giai đoạn này là công tác thẩm định. Tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của từng dự án mà công tác thẩm định được thực hiện một số hoặc tất cả các khía cạnh kỹ thuật, tổ chức, tài chính và kinh tế.2 Đầu tư Đây là giai đoạn nhà đầu tư bỏ vốn thực hiện dự án.
Thời gian và hiệu quả của giai đoạn này một phần sẽ phụ thuộc vào kết quả của giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Chuẩn bị đầu tư tốt sẽ giảm bớt thời gian đầu tư giúp quá trình luân chuyển vốn nhanh, tạo ra lợi ích cho nhà đầu tư. Ngược lại nếu chuẩn bị đầu tư không tốt sẽ làm kéo dài thời gian đầu tư dẫn đến vốn đầu tư bị tồn đọng, gây tổn thất cho nhà đầu tư.3 Vận hành Đây là giai đoạn cuối trong chu trình phát triển của một dự án, là giai đoạn quản lý sau khi dự án hoàn thành và đi vào hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu mà dự án đã đề ra. -4- Dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột khi hoàn thành, đưa vào vận hành sẽ giúp giảm lưu lượng giao thông qua trung tâm thành phố và góp phần phát triển các khu vực dọc hai bên đường.2 Các quan điểm phân tích dự án Dự án sẽ tạo ra lợi ích và chi phí khác nhau cho các bên liên quan.
Do đó, một dự án phải được phân tích theo quan điểm của từng bên liên quan để họ có cơ sở đưa ra các quyết định. Dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột là dự án công thuần túy sử dụng 100% vốn ngân sách Nhà nước nên chỉ được xem xét tính khả thi của dự án trên quan điểm kinh tế và quan điểm xã hội.1 Theo quan điểm kinh tế Theo Jenkins và Harberger (1995), quan điểm kinh tế cần xác định ngân lưu của cả nền kinh tế trong trường hợp có so với trường hợp không có dự án. Ngân lưu theo quan điểm kinh tế được tính bằng công thức: Ngân lưu kinh tế = Lợi ích tính theo giá kinh tế – Chi phí tính theo giá kinh tế Ngân lưu kinh tế phải tính đến ngoại tác mà dự án tạo ra và không tính đến khoản chuyển giao giữa các thành phần trong nền kinh tế. Nếu dự án tạo ra ngoại tác tích cực là lợi ích kinh tế còn dự án tạo ra ngoại tác tiêu cực là chi phí kinh tế.
Các khoản chuyển giao như thuế, vốn vay sẽ làm tăng lợi ích cho đối tượng này và giảm lợi ích của đối tượng khác một khoản tương đương nhưng chúng không ảnh hưởng đến phúc lợi cả nền kinh tế.2 Theo quan điểm xã hội Dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới thu nhập của các nhóm đối tượng trong xã hội. Theo Jenkins và Harberger (1995), sự tác động của dự án còn gọi là ngoại tác sẽ làm tăng hoặc giảm thu nhập của các nhóm đối tượng không thông qua giao dịch và không phản ánh qua giá. Quan điểm này sẽ tính và phân bổ ngoại tác cho các đối tượng sau khi đã trừ đi chi phí cơ hội của họ. Ngân lưu ngoại tác mà dự án tạo ra sẽ được tính bằng chênh lệch giữa ngân lưu kinh tế và ngân lưu tài chính sử dụng suất chiết khấu kinh tế, thông qua công thức: Ngân lưu tài chính sử dụng suất Ngân lưu ngoại tác = Ngân lưu kinh tế – chiết khấu kinh tế -5- 2.3 Phương pháp phân tích dự án Các phương pháp phân tích sử dụng trong luận văn được phân ra làm 4 nhóm là phương pháp dự báo lưu lượng xe, phương pháp phân tích tài chính, phương pháp phân tích kinh tế và phương pháp phân tích phân phối.1 Phương pháp dự báo lưu lượng xe Lưu lượng xe trong phần phân tích kinh tế của dự án được dự báo bằng phần mềm Jica Strada.
Phần mềm này được xây dựng theo mô hình bốn bước của McNally (2000). Trình tự bốn bước của mô hình là phát sinh hành trình, phân phối hành trình, phương thức phân chia loại hình giao thông và ấn định tuyến đường. Bước 1: Phát sinh hành trình Bước này sẽ dự báo số lượng hành trình xuất phát ở từng phường, xã của thành phố Buôn Ma Thuột vào năm 2015 và năm 2020 bằng cách kết hợp quy hoạch kinh tế - xã hội của thành phố Buôn Ma Thuột đến năm 2020 và hệ số đi lại bình quân giữa các phường, xã2. Bước 2: Phân phối hành trình Hành trình xuất phát từ một điểm nhưng có thể có nhiều điểm đến khác nhau.
Do đó, hành trình xuất phát năm 2015 và năm 2020 ở từng phường, xã trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột sẽ được xác định đi đến đâu, cụ thể số lượng bao nhiêu. Có 3 yếu tố ảnh hưởng đến sự phân phối này là số lượng hành trình xuất phát ở bước 1, chi phí đi lại giữa các vùng (còn gọi là trở kháng, được tính toán dựa vào khoảng cách và thời gian đi lại giữa các vùng) và sự hấp dẫn của vùng đến. Bước 3: Phương thức phân chia loại hình giao thông Tiến hành khảo sát đếm xe, tại 3 điểm và thu về 432 biểu đếm xe, để xác định tỷ lệ các loại xe nhằm dự báo số lượng hành khách sử dụng từng loại phương tiện giao thông. 2 Chọn năm 2015 và năm 2020 là hai mốc thời gian dự báo lưu lượng phương tiện giao thông.
Trong đó, năm 2015 là năm mà mạng lưới giao thông hiện trạng chưa có đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột. Năm 2020 dự kiến là năm đầu tiên đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột đi vào hoạt động với các loại phương tiện giao thông sẽ vận hành qua đây. -6- Bước 4: Ấn định tuyến đường Xác định tuyến đường ngắn nhất cho các hành trình để từ đó tính lưu lượng phương tiện giao thông trên các tuyến đường theo mô hình hiện trạng năm 2015 và mô hình quy hoạch năm 2020 của mạng lưới giao thông thành phố Buôn Ma Thuột.2 Phương pháp phân tích tài chính Phương pháp chiết khấu ngân lưu lợi ích và chi phí tài chính được sử dụng để phân tích tài chính của dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên, dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột không phát sinh bất kỳ khoản thu nào nên lợi ích tài chính bằng 0 trong tất cả các năm phân tích.
Chi phí tài chính của dự án gồm chi phí đầu tư và chi phí duy tu thường xuyên, sửa chữa định kỳ. Dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột chắc chắn không khả thi về mặt tài chính khi không có nguồn thu. Do đó, trong phân tích tài chính chỉ sử dụng chỉ tiêu giá trị hiện tại tài chính (PV tài chính) của các dòng chi phí để xác định tổng số tiền ngân sách Nhà nước phải chi ra cho dự án là bao nhiêu trong thời gian phân tích. n Ci PV tài chính được tính theo công thức tổng quát là PVtàichính i 0 (1 r ) i Trong đó: Ci là chi phí tài chính dự án cuối năm i; r là suất chiết khấu tài chính.
Suất chiết khấu tài chính là chi phí vốn tài chính của dự án. Dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột chi phí vốn tài chính được sử dụng là lãi suất trái phiếu Chính phủ thời hạn 10 năm, bằng 6,48%3, vì không sử dụng vốn vay thương mại mà được đầu tư bằng 100% vốn ngân sách. 3 6,48% là lãi suất danh nghĩa của trái phiếu Chính phủ Việt Nam thời hạn 10 năm (Tradingeconomics, 2015) với tỷ lệ lạm phát 5,15% (IMF, 2015). Suy ra, lãi suất thực sẽ bằng ((6,48%+1)/(1+5,15%)) – 1 = 1,26%.3 Phương pháp phân tích kinh tế Phương pháp chiết khấu ngân lưu của lợi ích và chi phí kinh tế, theo Jenkins và Harberger (1995), được sử dụng để phân tích kinh tế của dự án đường Đông – Tây thành phố Buôn Ma Thuột.
Chi phí kinh tế của dự án gồm chi phí đầu tư và chi phí duy tu thường xuyên, sửa chữa định kỳ.