TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ LỚP QT47 KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN NGÂN HÀNG CÂU NHẬN ĐỊNH ĐÚNG – SAI TỪ CHƯƠNG HAI ĐẾN CHƯƠNG SÁU Giảng viên hướng dẫn ThS. Nguyễn Hoài Đông Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 5 năm 2023 MỤC LỤC CHƯƠNG 2. 1 Too long to read on your phone? Save to read later on your computer Save to a Studylist CHƯƠNG 3. Xét về mặt bản chất, năng suất lao động và cường độ lao động là giống nhau.
Khi tiền rút ra khỏi lưu thông, lúc này nó sẽ thực hiện chức năng là phương tiện thanh toán. Dù là lao động giản đơn hay lao động phức tạp thì đều có tính hai mặt là cụ thể và trừu tượng. Hàng hóa có hai thuộc tính vì có hai loại lao động khác nhau kết tinh trong hàng hóa. Xét về mặt bản chất, tiền là một loại hàng hóa đặc biệt, giống với mọi thứ hàng hóa.
Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở kết hợp giá trị cá biệt và giá trị xã hội. Giá trị sử dụng của mọi hàng hóa đặc biệt đều giống nhau. Hàng hóa dịch vụ và hàng hóa thông thường là hoàn toàn giống nhau. Năng suất lao động và cường độ lao động đều tỉ lệ thuận với lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa.
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Năng suất lao động và cường độ lao động đều tỉ lệ nghịch với tổng lượng giá trị của hàng hóa. Giá trị xã hội là cơ sở để sản xuất và trao đổi hàng hóa. Giá trị trao đổi và giá trị là hoàn toàn giống nhau.
Bằng lao động cụ thể, người công nhân đã tạo ra giá trị mới là 20 USD. Quy luật giá trị có những chức năng to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Lượng giá trị xã hội của hàng hóa là một đại lượng cố định, không thay đổi. Tất cả hàng hóa đặc biệt đều giống nhau ở đặc điểm không do hao phí lao động trực tiếp tạo ra.
Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó. Lưu thông hàng hoá dựa trên nguyên tắc ngang giá. Điều này được hiểu là giá cả có thể tách rời giá trị và xoay quanh giá trị của nó. Khi số lượng hàng hóa cung cấp vào thị trường thay đổi thì sẽ làm thay đổi lượng giá trị xã hội của hàng hóa.
Tính hai mặt và hai tính chất của lao động sản xuất hàng hóa là hoàn toàn giống nhau. Lạm phát xảy ra khi số lượng tiền đang có (Ms) không ngang bằng số lượng tiền cần thiết (Md) cho lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế. Vận dụng quy luật giá trị, trong một số trường hợp nhất định, Nhà nước có thể can thiệp trực tiếp và gián tiếp vào giá cả hàng hóa. Cạnh tranh trong nội bộ ngành sẽ dẫn đến hình thành giá cả thị trường của hàng hóa trong ngành đó.
Năng suất lao động cá biệt và năng suất lao động xã hội ảnh hưởng giống nhau đến lượng giá trị xã hội của một hàng hóa. Tỷ suất lợi nhuận chịu ảnh hưởng bởi tỷ suất giá trị thặng dư và cấu tạo hữu cơ của tư bản. Quan hệ cung - cầu về hàng hóa có ảnh hưởng quyết định đến tỷ suất giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận. Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản là giá trị thặng dư vừa được tạo ra trong lưu thông, vừa không được tạo ra trong lưu thông.
Lợi nhuận và giá trị thặng dư là hoàn toàn giống nhau. Tư bản công nghiệp nhường một phần giá trị thặng dư cho tư bản thương nghiệp theo nguyên tắc lợi nhuận bình quân. Xét về mặt chất, giá trị thặng dư với lợi nhuận, lợi nhuận thương nghiệp là khác nhau. Giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối.
Tiết kiệm tư bản bất biến cũng như nâng cao tốc độ chu chuyển của tư bản sẽ giúp làm tăng tỷ suất lợi nhuận. Lợi nhuận chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư. Không phải bất cứ bộ phận nào của tư bản bất biến đều dịch chuyển giá trị vào sản phẩm mới như nhau. Sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch đều dựa trên tiền đề tăng năng suất lao động xã hội.
Sự chuyển hóa của tiền tệ thành tư bản gắn liền với sự chuyển hóa sức lao động thành hàng hóa. Xét theo phương thức chu chuyển giá trị của tư bản sản xuất vào giá trị sản phẩm, có thể chia tư bản thành hai loại là tư bản bất biến và tư bản khả biến. Xét theo phương thức chu chuyển giá trị của tư bản sản xuất vào giá trị sản phẩm, có thể chia tư bản thành hai loại là tư bản cố định và tư bản lưu động. Tư bản bất biến và các bộ phận của nó chuyển toàn phần giá trị của nó sang sản phẩm mới.
Hàng hóa sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt. Giá trị của hàng hóa sức lao động do giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết quyết định. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động và mọi loại hàng hóa là giống nhau. Lưu thông hàng hóa (mua, bán thông thường) không tạo ra giá trị tăng thêm xét trên phạm vi xã hội.
Tiền công thực tế thay đổi theo chiều hướng tỷ lệ thuận với lạm phát. Tiền công thực tế phụ thuộc hoàn toàn vào tiền công danh nghĩa. Ngày lao động bao gồm thời giao lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư. Bản chất của tích lũy tư bản là kết quả của quá trình tập trung tư bản.
Quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào cấu tạo hữu cơ của tư bản và tỷ suất giá trị thăng dư. Nguồn gốc của giá trị thặng dư là từ tiêu dùng hàng hóa sức lao động. Tuần hoàn tư bản và chu chuyển tư bản là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Tuần hoàn tư bản là nội dung, còn chu chuyển tư bản là hình thức của sự vận động của tư bản.
Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cho phép nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản cố định và tư bản lưu động. Lợi nhuận thương nghiệp là một phần của giá trị thặng dư trong sản xuất. Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông hàng hóa. Tỷ suất giá trị thặng dư tỉ lệ thuận với quy mô tích lũy tư bản.
Lợi nhuận bằng giá trị thặng dư khi mua và bán hàng hoá đúng giá trị. Sự cạnh tranh trong cung ứng và tuyển dụng sức lao động có tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế. Khi mức độ khai thác sức lao động càng tăng thì sẽ làm cho tỷ suất lợi nhuận ngày càng giảm. Tốc độ chu chuyển của tư bản càng chậm thì quy mô giá trị thặng dư thu được càng tăng.
Tư bản bất biến và tư bản cố định giống nhau ở đặc điểm biến đổi giá trị. Sức lao động của người làm thuê là hàng hóa đặc biệt. Hàng hóa sức lao động là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản. Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản.
Có nhiều phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong thị trường tư bản chủ nghĩa. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối khác về chất so với phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. Năng suất lao động xã hội ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản. Tích lũy tư bản dẫn đến những hệ quả nhất định trong nền kinh tế thị trường.
Sự cạnh tranh giữa các ngành khác nhau sẽ dẫn đến hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Ngành Chi phí m' (%) Khối lượng (m) P (%) Cơ khí Dệt Da 73. Hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính như mọi hàng hóa thông thường, nhưng có đặc điểm riêng. Nghiên cứu chu chuyển của tư bản là nghiên cứu về mặt lượng của sự vận động của tư bản.
Độc quyền trong nền kinh tế thị trường vừa thúc đẩy, vừa kìm hãm sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Quan hệ phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bị chi phối và quyết định bởi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Cạnh tranh và độc quyền có mối quan hệ chặt chẽ trong nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa có những đặc trưng giống, vừa có những đặc trưng khác với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Trong nền kinh tế thị trường, tồn tại một số quan hệ lợi ích kinh tế cơ bản. Xuất khẩu tư bản là một trong những đặc điểm cơ bản và phổ biến của độc quyền trong chủ nghĩa tư bản. Một trong những nội dung cơ bản của hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là thực hiện đa dạng các hình thức, các mức độ hội nhập kinh tế quốc tế. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và địa vị của chủ thể trong hệ thống quan hệ sản xuất xã hội có ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
Một trong những phương thức cơ bản thực hiện lợi ích kinh tế trong các quan hệ lợi ích chủ yếu trong nền kinh tế thị trường là theo nguyên tắc thị trường. Quan hệ lợi ích giữa những người sử dụng lao động vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn. Các quan hệ lợi ích kinh tế vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau. Hội nhập kinh tế quốc tế có những tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Một trong các nội dung chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam là xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý. Thực hiện đa dạng các hình thức, các mức độ hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những nội dung chủ yếu của hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tồn tại đa dạng hình thức sở hữu; thành phần kinh tế; loại hình phân phối.