MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Do cấu tạo địa chất có các lớp đất yếu trên bề mặt nên các công trình có tải trọng vừa và lớn thƣờng đƣợc thiết kế với biện pháp móng cọc. Tải trọng công trình thông qua cọc truyền xuống các lớp đất tốt bên dƣới qua sức chịu tải đầu mũi và ma sát bên giữa cọc và đất. Việc tính toán đánh giá khả năng chịu tải của cọc chủ yếu căn cứ các đặc trƣng cơ lý đƣợc xác định từ thí nghiệm trong phòng hoặc các kết quả thí nghiệm hiện trƣờng cũng nhƣ tải trọng phần bên trên công trình truyền xuống. Việc chọn lựa kích thƣớc cọc và thi công cọc ở công trƣờng đƣợc thực hiện căn cứ kết quả thiết kế.
Sau khi thi công cọc, để đánh giá chính xác khả năng chịu tải của cọc, các thí nghiệm hiện trƣờng đƣợc thực hiện để kiểm tra. Các phƣơng pháp này nhằm kiểm tra độ chính xác của các giá trị thiết kế và chất lƣợng toàn bộ quá trình thi công tại hiện trƣờng. Hiện nay ở nƣớc ta, phƣơng pháp nén tĩnh là giải pháp truyền thống đƣợc tin cậy và sử dụng rộng rãi. Trong thực tế, kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc thƣờng cho thấy đa số các cọc còn làm việc trong phạm vi đàn hồi nên không thể cho phép rút ra các nhận định đúng đắn về giá trị tải trọng giới hạn.
Đề tài “Phân tích đánh giá khả năng chịu tải của cọc bằng phương pháp nội suy theo kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc” đƣợc lựa chọn cho luận văn nhằm tổng hợp các cơ sở đánh giá khả năng chịu tải từ thí nghiệm nén tĩnh, tính toán áp dụng và phân tích đánh giá khả năng chịu tải của cọc căn cứ kết quả thí nghiệm nén tĩnh. Ngoài ra, việc phân tích ngƣợc bằng hàm nội suy cho phép so sánh biểu đồ nội suy và thí nghiệm nhằm tìm ra phƣơng pháp phân tích hợp lý. Kết quả phân tích có thể là cơ sở để đánh giá mức độ chính xác giá trị sức chịu tải của hồ sơ thiết kế nhằm kiến nghị giải pháp thiết kế hợp lý. Giá trị thực tiễn của đề tài Hiện nay, phƣơng pháp thì nghiệm nén tĩnh cọc đƣợc áp dụng rộng rãi ở Việt Nam.
Tuy nhiên, trong tiêu chuẩn xây dựng chỉ kiến nghị một số phƣơng pháp phân -2- tích kết quả mà không có các chỉ dẫn cụ thể nên có thể có một số phƣơng pháp không áp dụng đƣợc. Do đó, yêu cầu cần phải phân tích chi tiết hơn về các phƣơng pháp này căn cứ dữ liệu thực tế. Việc phân tích kết quả thí nghiệm nén tĩnh nhằm rút ra các nhận xét để khắc phục các nhƣợc điểm của việc xử lý kết quả thí nghiệm, góp phần xây dựng phƣơng pháp kiểm tra sức chịu tải của cọc ở hiện trƣờng có độ tin cậy cao. Mục đích nghiên cứu của đề tài: Đề tài đƣợc thực hiện với các mục đích chính nhƣ sau: Tổng hợp các phƣơng pháp đánh giá tải trọng giới hạn của cọc theo kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc.
Phân tích đánh giá khả năng chịu tải của cọc theo kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc đạt tải trọng giới hạn và chƣa đạt tải trọng giới hạn. Phân tích ngƣợc bằng hàm nội suy đƣờng cong quan hệ tải trọng – chuyển vị theo các phƣơng pháp, nhằm làm sáng tỏ mức độ tin cậy của các phƣơng pháp phân tích. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu lý thuyết kết hợp với thực nghiệm: Nghiên cứu tổng quan các phƣơng pháp thí nghiệm xác định sức chịu tải của cọc ở hiện trƣờng. Nghiên cứu lý thuyết phƣơng pháp thí nghiệm tĩnh và xây dựng hàm nội suy.
Xây dựng các biểu đồ phục vụ phân tích so sánh theo từng loại hàm nội suy với kết quả thí nghiệm thực tế. Kết quả dự kiến của đề tài: Đánh giá mức độ tin cậy của phƣơng pháp phân tích kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc khi cọc đạt trạng thái giới hạn và khi chƣa đạt. -3- CHƢƠNG 1: CÁC PHƢƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM ĐÁNH GIÁ, KIỂM TRA SỨC CHỊU TẢI CỌC Thí nghiệm nén tĩnh cọc ở hiện trƣờng đƣợc xem là phƣơng pháp đáng tin cậy để đánh giá khả năng chịu tải giới hạn của cọc. Thực tế, thí nghiệm nén tĩnh thƣờng đƣợc yêu cầu thực hiện và giá trị tải trọng giới hạn từ thí nghiệm đƣợc xem là tiêu chuẩn để đánh giá trong thi công và cho cả quá trình thiết kế.
Thí nghiệm nén tĩnh cọc đóng vài trò quan trọng là do nó cung cấp sức kháng thực của đất ở hiện trƣờng và là cơ sở đang tin cậy đối với thiết kế. Phƣơng pháp thí nghiệm nén tĩnh Thí nghiệm đƣợc tiến hành bằng phƣơng pháp dùng tải trọng tĩnh ép dọc trục cọc sao cho dƣới tác dụng của lực ép, cọc lún sâu thêm vào đất nền. Tải trọng tác dụng lên đầu cọc đƣợc thực hiện bằng kích thủy lực với hệ phản lực và giàn chất tải, hệ cọc neo hoặc kết hợp dàn chất tải và hệ cọc neo tùy tình hình địa chất khu vực. Các số liệu về tải trọng, chuyển vị và biến dạng có đƣợc trong quá trình thí nghiệm là cơ sở để phân tích, đánh giá sức chịu tải và mối quan hệ tải trọng – chuyển vị của cọc trong đất nền.
Thiết bị thí nghiệm Thiết bị thí nghiệm bao gồm hệ gia tải phản lực và hệ đo đạc quan trắc. Hệ gia tải gồm kích, bơm và hệ thống thủy lực phải bảo đảm không bị rò rỉ, hoạt động an toàn dƣới áp lực không nhỏ hơn 150% áp lực làm việc. Kích thủy lực phải bảo đảm các yêu cầu sau: Có sức nâng đáp ứng tải trọng lớn nhất theo dự kiến. Có khả năng gia tải, giảm tải với cấp tải trọng phù hợp với đề cƣơng thí nghiệm.
Có khả năng giữ tải ổn định không ít hơn 24h. Có hành trình đủ để đáp ứng chuyển vị đầu cọc lớn nhất theo dự kiến cộng với biến dạng của hệ phản lực. Khi sử dụng nhiều kích, các kích nhất thiết phải cùng chủng loại, cùng đặc tính kỹ thuật và phải đƣợc vận hành trên cùng một máy bơm. -4- Chuyển vị cho phép của hệ phản lực bằng 25 mm khi sử dụng cọc neo và 100 mm khi sử dụng dàn chất tải và néo đất.
Tấm đệm đầu cọc và đầu kích bằng thép bản có đủ cƣờng độ và độ cứng đảm bảo phân bố tải trọng đồng đều của kích lên đầu cọc. Hệ đo đạc quan trắc bao gồm thiết bị, dụng cụ đo tải trọng tác dụng lên đầu cọc, đo chuyển vị của cọc, máy thủy chuẩn, dầm chuẩn và dụng cụ kẹp đầu cọc. Tải trọng tác dụng lên đầu cọc đƣợc đo bằng đồng hồ đo áp lực lắp sẵn trong hệ thống thủy lực. Đồng hồ áp lực nên đƣợc hiệu chỉnh đồng bộ cùng với kích và hệ thống thủy lực với độ chính xác đến 5%.
Nếu không có điều kiện hiệu chỉnh đồng hồ thì có thể hiệu chỉnh riêng đồng hồ đo áp lực. Chuyển vị đầu cọc đƣợc đo bằng 2 đến 4 chuyển vị kế có độ chính xác đến 0,01 mm, có hành trình dịch chuyển ít nhất 50 mm hoặc đủ để đo đƣợc chuyển vị lớn nhất theo dự kiến. Máy thủy chuẩn dùng để đo kiểm tra dịch chuyển, chuyển vị của gối kê, dàn chất tải, hệ thống neo, dầm chuẩn gá lắp chuyển vị kế, độ vồng của dầm chính và chuyển vị đầu cọc. Các số liệu đo chuyển vị đầu cọc bằng máy thủy chuẩn chỉ đƣợc dùng nhƣ là số liệu kiểm tra thô.
Các bộ phận dùng để gá lắp thiết bị đo chuyển vị gồm dầm chuẩn bằng gỗ hoặc bằng thép và dụng cụ kẹp đầu cọc bằng thép bản phải đảm bảo ít bị biến dạng do thời tiết. Hệ phản lực đƣợc thiết kế để chịu đƣợc phản lực không nhỏ hơn 120 % tải trọng thí nghiệm lớn nhất theo dự kiến. Tùy thuộc điều kiện thí nghiệm, có thể chọn một trong ba dạng kết cấu sau đây để làm bệ phản lực: Dầm chính kết hợp với dàn chất tải; Dầm chính kết hợp với hệ dầm chịu lực liên kết với hệ cọc neo; Phối hợp cả hai dạng trên; -5- Hình 1.1 Gia tải bằng kích thủy lực, sử dụng cọc neo làm hệ phản lực Hình 1.2 Gia tải bằng kích thủy lực, sử dụng dàn chất tải và đối trọng làm hệ phản lực -6- Hình 1.3 Gia tải bằng kích thủy lực, dùng dàn chất tải và đổi trọng kết hợp cọc neo làm phản lực 1. Chuẩn bị thí nghiệm Thời gian nghỉ từ khi kết thúc thi công đến khi thực hiện thí nghiệm đƣợc quy định nhƣ sau: Tối thiểu 21 ngày với cọc khoan nhồi.
Tối thiểu 7 ngày với các cọc đóng hoặc ép. Đầu cọc thí nghiệm có thể đƣợc cắt bớt hoặc nối thêm nhƣng phải đƣợc gia công để đảm bảo các yêu cầu sau: Khoảng cách từ đầu cọc đến dầm chính phải đủ để lắp đặt kích và thiết bị đo. Mặt đầu cọc đƣợc làm phẳng, vuông góc với trục cọc, nếu cần thiết phải gia cố thêm để không bị phá hoại cục bộ dƣới tác dụng của tải trọng thí nghiệm. Cần có biện pháp loại trừ ma sát phần cọc cao hơn cốt đáy móng nếu xét thấy có thể ảnh hƣởng đến kết quả thí nghiệm.
-7- Kích phải đặt trực tiếp trên tấm đệm đầu cọc, chính tâm so với tim cọc. Khi dùng nhiều kích thì phải bố trí các kích sao cho tải trọng đƣợc truyền dọc trục, chính tâm lên đầu cọc. Hệ phản lực phải lắp đặt theo nguyên tắc cân bằng, đối xứng qua trục dọc, bảo đảm truyển tải trọng dọc trục, chính tâm lên đầu cọc, đồng thời tuân thủ các quy định sau: Dàn chất tải đƣợc lắp đặt trên các gối kê ổn định, hạn chế tối đa chuyển vị của gối kê. Dầm chính và hệ dầm chịu lực phải đƣợc kê lên các trụ đỡ hoặc các gối kê.
Khi sử dụng nhiều dầm chính, các dầm nhất thiết phải đƣợc liên kết cứng với nhau bằng dầm chịu lực, bảo đảm truyển tải trọng đồng đều lên đầu cọc. Việc chất tải trọng phải cân bằng, nhẹ nhàng, tránh các xung lực. Bố trí neo (cọc neo hoặc néo đất) đối xứng qua trục dọc. Khi thí nghiệm cọc xiên, phải thi công neo theo chiều và góc nghiêng của cọc thí nghiệm.
Phải lắp đặt sao cho dàn chất tải làm việc đồng thời với neo khi kết hợp chúng làm hệ phản lực. Khi lắp dựng xong, đầu cọc không bị nén trƣớc khi thí nghiệm. Dụng cụ kẹp đầu cọc đƣợc bắt chặt vào thân cọc, cách đầu cọc khoảng 0.5 lần đƣờng kính hoặc chiều rộng của tiết diện cọc.