CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG TRỤ ĐẤT GIA CỐ XI MĂNG ĐỂ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU 1.1 Giới Thiệu lịch sử hình thành 1.1 Trên thế giới Từ rất lâu, phương pháp cọc xi măng – đất đã được dùng để cải tạo đất. Mục đích của phương pháp này là cải thiện các đặc trưng của đất, như tăng cường độ kháng cắt, giảm nén lún, bằng cách trộn đất nền với xi măng (vữa xi măng) để chúng tương tác với đất. Sự đổi mới tốt hơn nhờ trao đổi ion tại bề mặt các hạt sét, gắn kết các hạt đất và lấp các lỗ rỗng bởi các sản phẩm của phản ứng hóa học. Trộn sâu phân loại theo chất kết dính (xi măng, vôi, thạch cao, tro bay.) và phương pháp trộn (khô/ướt, quay/ phun tia, guồng xoắn hoặc lưỡi cắt).
Phát triển cọc xi măng – đất bắt đầu tại Thụy Điển và Nhật Bản từ những năm 1960. Phun khô dùng vôi bột chưa tôi được dùng ở Nhật Bản từ những năm 1970. Khoảng thời gian đó cọc đất vôi cũng ra đời ở Thụy Điển. Trộn ướt dùng vữa xi măng cũng được Nhật Bản áp dụng trong những năm 1970.
Phương pháp được phổ biến ra thế giới, gần đây hỗn hợp xi măng, vôi với thạch cao, tro bay, xỉ cũng đã được giới thiệu. Thiết bị trộn đã được cải tiến. Phương pháp đã được áp dụng tai nhiều nước còn để giải quyết các vấn đề môi trường như để ngăn chặn và xử lý các vùng bị ô nhiễm. Gần đây, công nghệ tổ hợp được phát triển kết hợp trộn với phun tia, máy trộn bề mặt.
Năm 1967, Viện nghiên cứu hải cảng và bến tàu thuộc Bộ giao thông vận tải Nhật Bản bắt đầu các thí nghiệm trong phòng sử dụng vôi cục hoặc vôi bột để xử lý đất biển bằng phương pháp trộn vôi dưới sâu. Công việc nghiên cứu bởi Okumura, Terashi và những người khác suốt những năm đầu của thập niên 70. Năm 1974, Viện nghiên cứu hải cảng và bến tàu báo cáo phương pháp trộn vôi dưới sâu đã được bắt đầu ứng dụng toàn diện tại Nhật Bản. Năm 1976, viện nghiên cứu công chánh thuộc Bộ xây dựng Nhật Bản hợp tác với Viện nghiên cứu máy xây dựng Nhật Bản bắt đầu nghiên cứu phương pháp trộn phun khô dưới sâu bằng bột xi măng, bước thử nghiệm đầu tiên hoàn thành vào cuối năm 1980.
Năm 1977, Nhật Bản lần đầu tiên phương pháp trộn xi măng dưới sâu áp dụng trên thực tế. HVCH: NGUYỄN THÀNH THÂN 6 GVHD: TS. PHẠM VĂN HÙNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Hiện nay, nước ứng dụng công nghệ xi măng đất nhiều nhất là Nhật Bản và các nước vùng Scandinaver. Theo thống kê của hiệp hội CDM (Nhật Bản), tính chung trong giai đoạn 80-96 có 2345 dự án, sử dụng 26 triệu m3 xi măng đất.
Riêng từ 1977 đến 1993, lượng đất gia cố xi măng ở Nhật vào khoảng 23.6 triệu m3 cho các dự án ngoài biển và trong đất liền, với khoảng 300 dự án. Hiện nay hàng năm thi công khoảng 2 triệu m3. Tại Trung Quốc, công tác nghiên cứu bắt đầu từ năm 1970, mặc dù ngay từ cuối những năm 1960, các kỹ sư Trung Quốc đã học hỏi phương pháp trộn vôi dưới sâu và CDM ở Nhật Bản. Thiết bị trộn sâu dùng trên đất liền xuất hiện năm 1978 và ngay lập tức được sử dụng để xử lý nền các khu công nghiệp ở Thượng Hải.
Tổng khối lượng xử lý bằng công nghệ trộn sâu ở Trung Quốc cho đến nay vào khoảng trên 1 triệu m3. Từ năm 1987 đến 1990, công nghệ trộn sâu đã được sử dụng ở Cảng Thiên Tân để xây dựng 2 bến cập tàu và cải tạo nền cho 60 ha khu dịch vụ. Tổng cộng 513000m3 đất được gia cố, bao gồm các móng kè, móng của các tường chắn phía sau bến cập tàu. Xử lý sự cố nền công trình nhà ở Đài Bắc - Đài Loan HVCH: NGUYỄN THÀNH THÂN 7 GVHD: TS.
PHẠM VĂN HÙNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Xử lý nền ga tàu điện ở trung tâm Cai Ro - Ai Cập Đến năm 1992, một hợp tác giữa Nhật và Trung Quốc đã tạo ra sự thúc đẩy cho những bước đầu tiên của công nghệ CDM của Trung Quốc, công trình hợp tác đầu tiên là cảng Yantai. Trong dự án này 60.000m3 xử lý ngoài biển đã được thiết kế và thi công bởi chính các kỹ sư Trung Quốc (Tang, 1996).2 Ở Việt Nam: Viện khoa học công nghệ Xây dựng (IBST) là người đầu tiên đưa chất gia cố là xi măng vào (khởi thủy của phương pháp là cột vôi), điều này được khẳng định trong hội nghị gia cố sâu tổ chức tại Stockholm 2001. Tại Việt Nam, phương pháp này được nghiên cứu từ những năm đầu của thập kỷ 80 (thế kỷ trước) với sự giúp đỡ của Viện Địa kỹ thuật Thụy Điển (SGI) với một thiết bị thi công, do TS Nguyễn Trấp làm chủ trì. Đề tài được kết thúc vào năm 1986 thiết bị được chuyển giao cho LICOGI.
Vào năm 2000, do yêu cầu của thực tế, phương pháp này được áp dụng trở lại trong lĩnh vực xăng dầu, khi công trình chấp nhận một giá trị độ lún cao hơn bình thường tuy nhiên có hiệu quả kinh tế cao. Đơn vị đưa trở lại phương pháp này ban đầu là COFEC và nay là C&E consultans. Trong thời gian này song song với việc áp dụng rất nhiều thí nghiệm hiện trường (quan trắc công trình) đã được thực hiện. Những thí nghiệm mang tính nghiên cứu này được C&E thực hiện và quy mô của nó không thua kém các đồng nghiệp khác.
Hiện nay C&E đang thực hiện thí nghiệm quan trắc sự thay đổi áp lực nước dưới đáy khối gia cố (ở độ sâu > 20m) tại TP. Hồ Chí Minh để xem xét lại tính thoát HVCH: NGUYỄN THÀNH THÂN 8 GVHD: TS. PHẠM VĂN HÙNG LUẬN VĂN THẠC SĨ nước cố kết của đất nền dưới đáy khối gia cố. Hai đầu đo đã được lắp đặt để tiến hành nghiên cứu lâu dài.
Năm 2004, Viện khoa học Thủy lợi đã tiếp nhận chuyển giao công nghệ khoang phụt cao áp (Jet-grouting) từ Nhật Bản. Đề tài đã ứng dụng công nghệ và thiết bị này trong nghiên cứu sức chịu tải của cọc đơn và nhóm cọc, khả năng chịu lực ngang ảnh hưởng của hàm lượng xi măng đến tính chất của xi măng đất. nhằm ứng dụng Trụ đất xi măng vào xử lý đất yếu, chống thấm cho các công trình thủy lợi. Nhóm đề tài cũng đã sửa chữa chống thấm cho Cống Trại (Nghệ An), cống D10 (Hà Nam), cống Rạch C (Long An).
Số liệu về một số công trình khác sử dụng Trụ đất xi măng ở Việt Nam Đường kính Tổng mét dài Công nghệ STT Tên công trình cọc (m) đã thi công (m) trộn Đường vào sân đỗ cảng 1 0.6 32000 Trộn ướt hàng không Cần Thơ Nhà máy điện Nhơn 2 0.6 15000 Trộn khô Trạch I Đồng Nai Đường Nối Cầu Thủ 3 Thiêm với đại lộ Đông 0.6 100000 Trộn khô Tây. Hầm chui đường sắt 4 vành đai đường Láng 0.6 150000 Trộn khô Hòa Lạc Km7+358 Đường băng sân bay 5 0.6 300000 Trộn ướt Cần Thơ Xử lý nền đất yếu bằng cọc ĐGCXM công nghệ trộn khô tại Sân bay Cần Thơ. HVCH: NGUYỄN THÀNH THÂN 9 GVHD: TS. PHẠM VĂN HÙNG LUẬN VĂN THẠC SĨ 1.2 NGUYÊN LÝ HÌNH THÀNH CƯỜNG ĐỘ CỦA TRỤ ĐẤT XI MĂNG 1.1 Loại đất Nói chung tất cả các loại đất đều có thể trộn với xi măng.
Đối với đất cát, cát pha thì tính chất cơ lý được gia tăng rõ rệt; đất sét pha, đất sét, bùn sét tăng tương đối. Đối với đất bùn sét: Hiệu quả xử lý bằng xi-măng giảm khi hàm lượng vật chất hữu cơ tăng và khi chỉ số dẻo tăng. Đất có chứa vật chất hữu cơ nếu được xử lý bằng xi-măng sẽ có độ bền tăng lên không bao nhiêu. Tuy nhiên dùng xi-măng để xử lý đất hữu cơ vẫn hiệu quả hơn là vôi.
Thành phần hóa học trong đất: đất chứa hữu cơ, nhiễm mặn, có độ pH thấp <5… chúng chỉ cải thiện không đáng kể. Để gia tăng tính chất cơ lý thường dùng thêm phụ gia (vôi, thạch cao, xỉ lò cao,…). Có thể sản xuất được những loại xi măng phù hợp với đặc thù cho từng loại đất trên nhưng với điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay thì giá thành sẽ rất cao so với phương pháp khác.2 Thành phần khoáng Trong trường hợp đất có khả năng phản ứng pozzolan cao thì tính chất độ bền của đất sau xử lý bị chi phối bởi ứng xử độ bền của các khối gắn kết hóa rắn. Nhưng đối với đất có khả năng phản ứng pozzolan thấp hơn thì tính chất độ bền của đất sau xử lý bị chi phối bởi ứng xử độ bền của các khối đất hóa rắn.
Do đó nếu các điều kiện xử lý như nhau thì đất có khả năng phản ứng pozzolan cao sẽ có độ bền cao hơn. Hilt và Davidson nhận thấy rằng sét montmorillonit và sét kaolinit có hiệu quả đối với tác nhân pozzolan hơn là như sét chứa ilit, clorit hay vermiculit. Wissa et al. cũng giải thích rằng hàm lượng vật chất chất gắn kết thứ cấp được sản sinh trong phản ứng pozzolan của hạt sét và vôi hydrat Ca(OH)2 phụ thuộc vào hàm lượng và thành phần khoáng vật sét cũng như hàm lượng silica vô định hình và alumina có mặt trong đất.
Khoáng vật montmorillonit chắc chắn sẽ sẵn sàng để phản ứng hơn là ilit và kaolinit vì chúng có tính kết tinh thấp.3 Thành phần và hàm lượng các muối dễ hòa tan Các nhà khoa học Nga: T. đã chỉ rằng:Các muối clorua (NaCl, CaCl2, MgCl2) trong đất chiếm hàm lượng <5% thường có ảnh hưởng tốt; 5 HVCH: NGUYỄN THÀNH THÂN 10 GVHD: TS. PHẠM VĂN HÙNG LUẬN VĂN THẠC SĨ – 10% sẽ làm giảm một ít độ bền đất – xi măng, nhưng độ bền này vẫn đủ cao. Do vậy xi măng hóa đất chứa 8% các muối clorua hoàn toàn chấp nhận được.
Muối cacbonat natri (Na2CO3) = 0.5 – 1% không gây ảnh hưởng xấu đến việc xi măng hóa đất đá. Muối sunfatnatri [Na2SO4] < 1% sẽ làm tăng nhanh các quá trình hydrate xi măng. Khi [Na2SO4] = 1 – 3% xuất hiện tính chất xấu của nó (ngăn chặn quá trình đông kết, giảm cường độ, dễ bị ăn mòn,.), nhưng độ bền đất – xi măng vẫn đủ cao. Vì vậy, xi măng hóa đất trong các điều kiện này hoàn toàn được.
Khi [Na2SO4] > 3%,thì việc xi măng hóa đất không có hiệu quả. Các muối cacbonat dưới bất kỳ hàm lượng nào cũng đều ảnh hưởng tốt đến xi măng hóa đất. Sự có mặt của các cacbonat trong đất sẽ làm giảm đáng kể tác dụng xấu của các muối dễ hòa tan đặc biệt là Na2SO4. Thạch cao [CaSO4.2H2O] < 5% có tác dụng tốt đến xi măng hóa đất, nếu [CaSO4.