CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Khái quát về bê tông tự đầm BTTĐ là một trong những tiến bộ quan trọng nhất của công nghệ bê tông trong nhiều thập kỷ qua. Việc bê tông đúc tại chỗ thiếu tính đồng nhất do không được đầm kỹ hoặc bị phân tầng có thể làm giảm chất lượng của bê tông, làm ảnh hưởng đến khả năng chịu lực của kết cấu và tuổi thọ công trình. BTTĐ được phát triển nhằm đảm bảo cho bê tông vẫn đạt được độ đồng nhất, tự làm đầy mọi vị trí trong ván khuôn và có thể tự chảy qua các kết cấu có cốt thép dày đặc hoặc kết cấu có tiết diện hẹp, mỏng mà không cần rung động vẫn có thể đảm bảo chất lượng theo yêu cầu. Bê tông tự đầm được phát triển đầu tiên tại Nhật Bản vào cuối những năm 1980, được sử dụng chủ yếu cho các kết cấu có nhiều cốt thép trong các vùng động đất (Bouzoubaa và Lachemi, 2001).
Bê tông tự đầm có thể được mô tả như là một loại vật liệu hiệu quả cao, loại vật liệu có thể tự lấp đầy mọi nơi trong ván khuôn và có thể đầm chặt bằng chính trọng lượng bản thân của nó mà không cần rung động ngay cả khi khoảng cách các thanh thép trong kết cấu hẹp. Bê tông tự đầm cũng có thể được sử dụng trong các điều kiện khó khăn khác khi không thể sử dụng máy đầm như: đổ bê tông dưới nước, cọc nhồi, bệ máy và cột hoặc tường gia cố. Độ linh động cao của BTTĐ làm cho nó có thể đổ vào khuôn mà không cần rung. Kể từ khi ra đời năm 1983, nó đã được sử dụng rộng rãi trong xây dựng tại Nhật Bản (Okamura và Ouchi, 2003).
Gần đây, loại bê tông này đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới cho các ứng dụng khác nhau và nhiều hình dạng kết cấu khác nhau. Bê tông tự đầm cũng có thể được coi là "sự phát triển mang tính cách mạng trong xây dựng bê tông trong nhiều thập kỷ". Ban đầu sự phát triển của nó nhằm bù đắp sự thiếu hụt lao động có tay nghề ngày càng tăng, đến nay nó được sử dụng cho cả công tác bê tông đổ tại chỗ và bê tông đúc sẵn trong nhà máy. Lợi ích kinh tế mà nó mang lại đã được kiểm chứng như : a.
Xây dựng nhanh hơn; b. Giảm nhân lực trên công trường; c. Thi công dễ dàng hơn; Học viên: Hoàng Nguyên Sơn 9 Lớp Xây dựng cầu hầm 2010 Trường Đại học Xây dựng – Khoa sau đại học Luận Văn tốt nghiệp d. Độ đồng nhất và đông đặc hoàn toàn; e.
Bề mặt hoàn thiện tốt hơn; f. Nâng cao độ bền; g. Sức dính bám tăng; h. Dễ dàng hơn trong thiết kế thành phần bê tông; i.
Giảm tiếng ồn do không có chấn động; j. Môi trường làm việc an toàn hơn. Tính tự đầm của bê tông không những thể hiện qua khả năng biến dạng cao của mẻ trộn hoặc vữa mà nó còn thể hiện qua khả năng chống phân tầng giữa cốt liệu thô và vữa khi bê tông đi qua khoảng giới hạn giữa các thanh thép. Tính đồng nhất của BTTĐ còn thể hiện ở khả năng không bị phân tầng trong khi vận chuyển và thi công.
Hiện nay, có thể chế tạo BTTĐ có độ linh động cao và khả năng chống phân tầng bằng cách: 1. Thêm nhiều hơn hàm lượng hạt mịn, giảm hàm lượng cốt liệu thô; 2. Giảm tỷ lệ nước / Hàm lượng bột, (Hàm lượng bột ở đây là xi măng cộng với chất độn như tro bay, muội thạch anh. Sử dụng phụ gia siêu dẻo.
Do hàm lượng các hạt mịn cao hơn vì vậy cấu trúc vật liệu bên trong của BTTĐ cho thấy cơ bản giống với bê tông chất lượng cao có tính tự đầm. Do hàm lượng cốt liệu thô thấp vì vậy trong giai đoạn đầu kết cấu bê tông không có các khuyết tật và lớp bảo vệ đảm bảo có khả chống lại các yếu tố bên ngoài sau khi hình thành cường độ. Tuy nhiên, BTTĐ vẫn có một số vấn đề như: Bê tông tự đầm có mô đun đàn hồi thấp hơn, nó có thể ảnh hưởng đến đặc tính biến dạng của kết cấu bê tông dự ứng lực; Chùng dão và co rút cao hơn nên ảnh hưởng đến mất mát ứng suất và độ võng theo thời gian. BTTĐ bao gồm chủ yếu là xi măng, cốt liệu mịn, thô và chất độn như tro bay, muội silíc, nước, phụ gia siêu hóa dẻo và chất gia cố.
Thành phần của BTTĐ về cơ bản tương tự như bê tông truyền thống, nhưng để đạt được hỗn hợp có tính linh động cao người ta thêm vào một số chất độn như tro bay, chất độn thủy tinh, bột đá vôi, muội thạch anh. Học viên: Hoàng Nguyên Sơn 10 Lớp Xây dựng cầu hầm 2010 Trường Đại học Xây dựng – Khoa sau đại học Luận Văn tốt nghiệp Ba đặc điểm cơ bản của BTTĐ cần phải có là: tính biến dạng cao, khả năng chảy qua vật cản và khả năng chống phân tầng. Tính biến dạng cao có liên quan đến khả năng tự lấp đầy của bê tông, nó làm cho bê tông tự chảy để lấp đầy các khoảng trống trong cốp pha. Mặt khác, hình dạng của cốt pha, kích cỡ và hàm lượng của cốt liệu cũng làm tăng ma sát giữa các cốt liệu và làm giảm độ linh động của bê tông, có thể làm giảm đặc tính này bằng cách thêm vào thành phần của bê tông một số các phụ gia giảm nước cao (HRWR).
Tăng độ lưu động làm cho bê tông có thể dễ dàng chảy quanh những vật cản, chẳng hạn như cốt thép dày và có liên quan đến kích thước hình học và hình dạng của ván khuôn (ống thép, kết cấu thành mỏng). Sự phân tầng thường liên quan đến khả năng dính kết của bê tông, khả năng dính kết có thể được tăng cường bằng cách thêm một phụ gia cải tiến độ dính bám (VMA) cùng với HRWR, bằng cách giảm hàm lượng nước tự do, tăng hàm lượng vữa, hoặc một vài hợp chất khác. Có ba loại BTTĐ thông dụng trên thị trường như sau: * Bê tông tự đầ m được tạo ra bằ ng cách sử dụng cấ p phố i vật liê ̣u: Khả năng “tự đầ m” và khả năng chống lại sự phân tầ ng được tạo ra bằng cách giảm tỉ lê ̣ nước và chất kế t dính có sử dụng phụ gia giảm nước hoặc phụ gia siêu dẻo để làm tăng độ linh động của bê tông. * Bê tông tự đầ m được tạo ra bằ ng cách sử dụng phụ gia tăng độ nhớt (Viscosity agent): Sử dụng chất phụ gia làm tăng độ nhớt, phụ gia siêu dẻo để tạo ra khả năng tự đầ m và làm giảm sự phân tầ ng, tăng độ linh động của bê tông.
* Bê tông tự đầ m được tạo ra bằ ng cách kế t hợp hai loại trên: Khả năng tự đầ m được tạo ra chủ yế u bằ ng cách giảm tỷ lệ nước và chấ t kế t dính và sử dụng phụ gia giảm nước, phụ gia tăng độ nhớt. Để sản xuất BTTĐ, công việc chủ yếu liên quan đến việc thiết kế cấp phối tỷ lệ thích hợp và đánh giá các đặc tính của bê tông. Trong thực tế, BTTĐ trạng thái tươi có độ lỏng cao, có khả năng tự đầm và khả năng chống phân tầng tốt, tất cả đều góp phần làm giảm hiện tượng tổ ong trong bê tông. Với những đặc tính ưu việt này, BTTĐ là sản phẩm có thể nâng cao độ tin cậy và độ bền của kết cấu bê tông cốt thép.
Học viên: Hoàng Nguyên Sơn 11 Lớp Xây dựng cầu hầm 2010 Trường Đại học Xây dựng – Khoa sau đại học Luận Văn tốt nghiệp Ngoài ra, BTTĐ cho thấy hiệu quả cao trong cấu kiện chịu nén và có thể đáp ứng nhu cầu xây dựng khác bởi vì sản phẩm của nó đã được cân nhắc kỹ trong thiết kế kết cấu.2 Sự phát triển và tình hình nghiên cứu ứng dụng BTTĐ trên thế giới Năm 1983 vấn đề về độ bền của kết cấu bê tông đã giành được sự quan tâm lớn của giới khoa học chuyên ngành xây dựng tại Nhật Bản. Tiêu chuẩn về độ bền trong kết cấu bê tông đòi hỏi khi thi công phải có sự đầm chặt một cách phù hợp, điều này chỉ được thực hiện khi công nhân có tay nghề cao. Trong khi đó, sự suy giảm lực lượng công nhân có tay nghề trong ngành xây dựng tại Nhật Bản đã dẫn đến sự suy giảm về chất lượng của các công trình xây dựng. Vì vậy, ý tưởng về một loại hỗn hợp bê tông có thể lấp đầy mọi nơi trong ván khuôn và có thể tự đầm chặt bằng chính trọng lượng bản thân của nó mà không cần phải rung động được đưa ra xem xét nhằm mục đích nâng cao chất lượng công trình xây dựng mà không cần đến số lượng lớn công nhân bậc cao, đó chính là BTTĐ.
Năm 1986, giáo sư Okamura (Trường đại học công nghệ Koichi) đề xuất sử dụng BTTĐ. Các nghiên cứu phát triển BTTĐ bao gồm cả các nghiên cứu cơ bản về tính chất cơ lý của BTTĐ đã được tiến hành bởi hai giáo sư Ozawa và Maekawa của trường Đại học Tokyo (Ozawa 1989, Okamura 1993 & Maekawa 1999). Tới năm 1988, sản phẩm đầu tiên của BTTĐ được sản xuất và cho đến những năm của thập niên 1990, Nhật Bản bắt đầu phát triển và sử dụng nhiều BTTĐ. Năm 2000 khối lượng BTTĐ được sử dụng cho các sản phẩm đúc sẵn và bê tông trộn sẵn trong xây dựng của Nhật Bản là hơn 400.000 m3 (Ouchi et al.1 Biểu đồ khối lượng BTTĐ sử dụng tại Nhật Bản từ 1990-2000 (Nguồn: Hajime Okamura và Mashahiro Ouchi) Học viên: Hoàng Nguyên Sơn 12 Lớp Xây dựng cầu hầm 2010 Trường Đại học Xây dựng – Khoa sau đại học Luận Văn tốt nghiệp Tại Châu Âu, BTTĐ đã được sử dụng từ những năm đầu của thập kỷ 70.
Tuy nhiên, BTTĐ chưa được quan tâm đúng mức tại đây cho đến khi xuất hiện mẻ BTTĐ đầu tiên tại Nhật Bản vào cuối những năm 1980. Năm 1996, nhiều nước Châu Âu đã thành lập dự án "Sản xuất hợp lý và cải thiện môi trường bằng cách sử dụng BTTĐ" nhằm khám phá ý nghĩa các tính năng tích cực của BTTĐ, để ứng dụng và phát triển BTTĐ vào thực tế xây dựng các công trình. Từ đó, BTTĐ đã được áp dụng thành công tại nhiều công trình cầu, tường và các lớp ốp mặt hầm tại Châu Âu (Ouchi et al, 2003) Trong những năm 2000-2003, mối quan tâm về BTTĐ đã tăng ở Mỹ đặt biệt là trong ngành công nghiệp bê tông đúc sẵn.