Chương 1 Giới thiệu 1.1 Cọc ống bê tông ly tâm ứng suất trước Cọc ống ly tâm ứng suất trước (PHC) lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản từ những năm 1970 [4] và đến nay được sử dụng rộng rãi vì những ưu điểm mà nó mang lại như khả năng chống uốn đều các phương, khả năng kháng nứt, chiều dài cọc linh hoạt, áp dụng sản xuất trên dây chuyền công nghiệp nên kiểm soát được chất lượng cọc, vận chuyển linh hoạt và có thể sử dụng ở những công trình có địa chất phức tạp. Cọc ống ly tâm ứng suất trước có tiết diện hình vành khăn hay hình trụ rỗng với chiều dài và chiều dày thành cọc thay đổi tùy theo từng loại cọc. Cọc sử dụng bê tông có mác không nhỏ hơn M400 dành cho cọc ống ly tâm thường và không nhỏ hơn M600 dành cho dành cho cọc ống ly tâm ứng suất trước.8 minh hoạ cấu tạo điển hình của cọc ống ly tâm ứng suất trước trong đó L là chiều dài cọc, d chiều dày thành cọc, a đầu cọc hoặc đầu mối nối, b mũi cọc hoặc đầu mối nối Các nhà sản xuất cọc hiện nay căn cứ vào địa chất, đặc điểm, quy mô từng công trình mà sản xuất các loại cọc khác nhau, để từ đó người sử dụng có thể chọn lựa tùy theo nhu cầu sử dụng của mình. Theo đó cọc PHC được phân thành 3 nhóm A, B, C tương ứng với khả năng chịu lực theo vật liệu, 1 Hình 1.1: Bản vẽ cọc ống ứng suất trước Hình 1.2: Cấu tạo cọc ống ứng suất trước Bảng 1.3 liệt kê các đặc tính chi tiết sản phẩm cọc PHC của công ty Phan Vũ đang được sử dụng phổ biến trên thị trường.
Trên thế giới cọc PHC đã được sử dụng rộng rãi từ những nước phát triển như USA, Đức,Ý cho đến các nước Đông Nam Á như Thái Lan,Malaysia,Indonesia. Và ở Việt Nam cọc PHC thường được sử dụng trong những công trình nhà cao tầng. Ở Việt Nam, việc sử dụng cọc bê tông ly tâm ứng lực trước trong các công trình xây dựng khá phổ biến chẳng hạn như Công trình 246 Nguyễn Cửu Vân Quận 1 TP.HCM , công trình Trạm xử lý nước thải KCN Cái Mép tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Cọc PHC không những được sử dụng phổ biến công trình dân dụng mà còn sử 2 Hình 1.3: Bảng phân loại cọc của công ty Phan Vũ Hình 1.4: Công trình 246 Nguyễn Cửu Vân Quận 1 TP.HCM dụng cho công trình cảng biển cầu đường với những cọc có đường kính lớn như D1000,D1200.
Ngoài ra vì khả năng chịu tải trọng ngang tốt nên được dùng cho các công trình tường chắn đất, đê kè (Hình1.5), thủy lợi, công nghiệp. Hiện nay nhiều nhà máy bê tông :Phan Vũ, Bê tông 6, Bê tông Thủ Đức. đã sản xuất đại trà cọc bê tông ly tâm ứng suất trước, cung cấp nhiều loại cọc với kích thước chủng loại khác nhau với đường kính thay đổi từ φ300 đến φ1200, từ cọc loại A đến loại B loại C phù hợp với điều kiện địa chất của từng công trình. Ngoài những ưu điểm mà cọc PHC mang lại tuy nhiên hiện nay trong quá trình 3 Hình 1.5: Cọc ly tâm dùng làm kè chắn sóng thi công ép cọc PHC đã xuất hiện một số sự cố : nứt dọc thân cọc, phá hoại đầu cọc mà chưa xác định được nguyên nhân (Hình 1.6: Hiện tượng nứt cọc 1.2 Động lực phát triển và hướng nghiên cứu mới Tại Việt Nam đang sử dụng tiêu chuẩn TCVN 7888:2008 [5] để tính toán kiểm tra cường độ theo vật liệu của cọc ly tâm nhưng việc khảo sát và phân tích các vết nứt xuất hiện trong quá trình hạ cọc không được nêu ra.
Tuy nhiên trong 22TCN - 289-02 “Quy trình kỹ thuật thi công và nghiệm thu công trình bến cảng ” Điều 7.9 có nêu rõ hiện tượng nứt dọc thân cọc và cho rằng nguyên nhân là do tác động của áp lực thủy động trong lòng cọc khi hạ cọc trong nước 4 hoặc đất yếu, cốt đai xoắn cấu tạo trong cọc không đủ khả năng chịu tác động của áp lực thủy động trong lòng cọc [6]. Trên thực tế khi thi công hiện tượng này còn xuất hiện ngay cả khi hạ cọc trong nền đất tốt và không có mực nước ngầm chứng tỏ áp lực thủy động được nhắc trong [6] chỉ là một yếu tố tác động đến, còn có những nhận định về biện pháp thi công, về chất lượng cọc, về ảnh hưởng của điều kiện đất nền. Việc mô phỏng để xác định nguyên nhân gây nứt dọc thân cọc là cần thiết, các nội dung được khảo sát sau khi có kết quả được so sánh với các chỉ tiêu đánh giá và so sánh với kết quả thực nghiệm rồi rút ra kết luận.Các nội dung được khảo sát như sau: 1. Ép đỉnh cọc PHC500A-5 ép đúng tâm.
Ép đỉnh cọc PHC500A-5 ép lệch tâm. Ép ôm cọc PHC500A-5 ép lệch tâm. Ép ôm cọc PHC500A-10 ép lệch tâm xét đến cọc làm việc đồng thời với nền.3 Mục tiêu và giới hạn đề tài Mục tiêu khảo sát của đề tài là mô phỏng quá trình ép cọc bằng thiết bị rô bốt, thiết lập được quan hệ phát triển lực và biến dạng của vùng bị ngàm. Từ đó phân tích lực ép giữa các thớ khác nhau của cọc và xác định nguyên nhân gây nứt.
Đối tượng được khảo sát là cọc ƯST có chiều dài 5m liên kết ngàm tại chân cọc và cọc 10m liên kết với đất nền bằng mô hình Winkler. Cọc được sử dụng là cọc của công ty Phan Vũ , kích thước hình học bao gồm đường kính 50cm, chiều dày thành 6,5cm, cọc loại A(Loại cọc thường xuất hiện vết nứt dọc). Không xét đến các yếu tố từ biến, tải trọng động trong mô phỏng, các loại mô hình đất nền khác nhau, không xét đến các mối nối cọc.4 Cấu trúc của luận văn Chương 1 Chương giới thiệu nêu ra những khái niệm và cấu tạo của cọc một cách tổng quát cũng như khả năng ứng dụng trong các ngành xây dựng, đối tượng ý nghĩa và giới hạn của đề tài cũng được nhắc trong chương này. Chương 2 Chương tổng quan trình bày quá trình hạ cọc bằng rô bốt và những sự cố thường gặp trong quá trình hạ cọc trong đó đi sâu vào phân tích sự nứt dọc thân cọc và giải pháp khắc phục ở hiện trường.
Chương 3 Chương mô phỏng trình bày các trường hợp chịu nén của cọc, mô hình vật liệu, tải trọng điều kiện biện, hiệu chỉnh mô hình vật liệu bê tông và ứng dụng của phần mềm Atena vào các mô hình của cọc. Chương 4 Chương kết quả trình bày các chỉ tiêu đánh giá đường cong lực - biến dạng , so sánh với kết quả thực nghiệm từ đó xác định yếu tố gây nứt dọc thân cọc. Chương 5 Chương kết luận trình bày các kết luận cũng như hướng nghiên cứu phát triển đề tài sau này. 6 Chương 2 Tổng quan 2.1 Quy trình hạ cọc bằng máy ép rô bốt Rô bốt tự hành thi công ép cọc là thiết bị được đưa vào Việt nam từ cuối thập niên 1990, ban đầu nó được ứng dụng thi công ép cọc cho các công trình ở khu đô thị Nam Sài Gòn.
Đến nay đã có hàng trăm dàn rô bốt ép cọc hiện diện ở khắp các vùng miền trên toàn Việt Nam. Với khả năng di động tốt việc di chuyển đến vị trí mới khá nhanh và dễ dàng, lực ép rất lớn, thi công đạt năng suất và hiệu quả cao, tiết kiệm thời gian. Trên thị trường có nhiều loại thiết bị rô bốt ép cọc của các hãng Đức, Mỹ, Trung Quốc, ở Việt Nam sử dụng phổ biến máy ép cọc SUNWARD của Trung Quốc (Hình 2.2) với tải ép có thể trên 800 Tấn. Cấu tạo cơ bản của một rô bốt ép cọc gồm có các phần sau: • Khung cơ bản mang đối trọng • Hệ chân di chuyển • Xi lanh tạo lực ép • Má kẹp truyền lực là bộ phận trung gian truyền lực từ máy ép rô bốt đến cọc, Hình 2.1 minh hoạ một hệ má kẹp điển hình.
Bộ phận này có cấu tạo 7 để ôm quanh hay một phần chu vi cọc tạo lực ma sát ép cọc xuống đất nền. Quá trình ép được chia làm 4 bước như sau: Hình 2.1: Má kẹp(Ngàm kẹp) của máy ép rô bốt Hình 2.2: Máy ép cọc Rô bốt Bước1: Di chuyển máy vào vị trí ép. Đưa đoạn cọc thứ nhất vào vị trí ép, ép đoạn cọc thứ nhất đến cao độ +1.4m so với mặt đất hiện trạng. Bước 2: Cẩu đoạn cọc thứ hai vào giá ép, tỳ lên đoạn cọc 1 ép đến cao độ 0.1m so với mặt đất hiện trạng, tiến hành hàn nối cọc, ép ngập đoạn 1, tương tự ép đoạn 3, ép đoạn 4 đến cao độ 1.3: Bước 1- quá trình hạ cọc Hình 2.4: Bước 2- quá trình hạ cọc Bước 3: Cẩu đoạn cọc thứ 5,.
vào giá ép, căn chỉnh máy ép.Tiến hành ép đoạn thứ 5 đến đảm bảo điều kiện dừng ép thì dừng lại Bước 4: Di chuyển máy đến tim cọc khác tiến hành ép tim cọc tiếp theo lặp lại bước 1. Trong quá trình ép lưu ý Độ thẳng đứng của cọc theo 2 phương , Chiều dài thiết kế của cọc, áp lực ép tại thời điểm kết thúc ép cọc: Pmin < P < Pmax , quy cách tổ hợp các đoạn cọc.5: Bước 3- quá trình hạ cọc Hình 2.6: Bước 4- quá trình hạ cọc 2.2 Các sự cố trong quá trình hạ cọc 2.1 Cọc bị nứt, gãy khi cẩu chuyển Hai tác giả Lâm Thanh Phong và Trần Khánh Hùng [2] đã quan sát quá trình thi công hạ cọc ở các dự án ở Đồng bằng sông Cửu Long và đã liệt kê một số sự cố liên quan đến quá trình cẩu lắp. Trong trường hợp này yếu tố con người đóng vai trò chính. Quá trình cẩu lắp không được chú ý cẩn thận dẫn đến cọc bị va 10 chạm, hay một số đơn vị thi công cho công nhân dùng móc cẩu móc trực tiếp tại hai đầu cọc (Hình 2.7) để cẩu chuyển mà không tính toán kiểm tra vì nghĩ rằng cọc ống BTCT ƯST có độ cứng rất lớn, cọc không thể bị tổn hại.7: Sự cố do cẩu lắp cọc không đúng vị trí 2.2 Cọc bị nghiêng lệch quá mức cho phép Khi kiểm tra độ thẳng đứng của cọc các đơn vị thi công sử dụng máy trắc đạc, con dọi và thước cân bằng, sau từng đoạn cọc ép xuống đơn vị thi công sẽ kiểm tra lại phương thẳng đứng của cọc bằng các dụng cụ trên.
Tuy nhiên việc chủ quan không kiểm tra kỹ độ thẳng đứng của cọc sau từng phân đoạn cọc làm cho các đoạn cọc về sau càng nghiêng lệch so với phương thẳng đứng.