CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA GIÓ ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH CẦU DÂY VĂNG 1. Đặc điểm của gió tự nhiên. Giới thiệu chung. Đặc điểm của gió tự nhiên là tính nhiễu loạn.
Nguyên nhân cơ bản của sự nhiễu loạn là do ma sát của luồng không khí khi đi qua các bề mặt. Dòng không khí nhiễu loạn thay đổi một cách phức tạp và ngẫu nhiên trong không gian và theo thời gian, vì thế thường được biểu diễn dưới dạng tổng của vận tốc cơ bản và vận tốc biến đổi thể hiện thành phần nhiễu loạn của luồng không khí. Theo định nghĩa, sau một thời gian đủ dài (thông thường là 10s), thành phần biến đổi có giá trị bằng không. z U(z) + u(x,y,z) U(z) : Vaän toác gioù cô baûn u(x,y,z) : Thaønh phaàn nhieãu loaïn theo höôùng gioù x Höôùng gioù Hình 1.1: Quan hệ giữa vận tốc gió theo hướng gió với chiều cao.
- Theo phương vuông góc hướng gió: v(x,y,z,t). - Theo phương thẳng đứng: w(x,y,z,t). - 14 - Trong đó thành phần vận tốc gió cơ bản U(z) chỉ phụ thuộc vào độ cao z, các thành phần u, v và w biểu diễn các thành phần biến đổi của luồng gió. Vận tốc cơ bản U(z) và thành phần biến đổi theo hướng gió luôn được quan tâm đặc biệt chúng có tác động chủ yếu đến công trình.
Vận tốc gió cơ bản. Có một số phương pháp xác định vận tốc gió cơ bản, trong đó được sử dụng tương đối phổ biến là phương pháp tính vận tốc sử dụng hàm logarit và phương pháp theo kinh nghiệm. Phương pháp tính vận tốc gió sử dụng hàm logarit. Theo phương pháp này, vận tốc gió được xác định từ đặc trưng của bản thân dòng khí, đặc trưng địa hình và sự tương tác giữa dòng khí và địa hình mà nó đi qua.
Ở gần bề mặt địa hình, sự biến thiên của vận tốc theo chiều cao dU(z)/dz chỉ phụ thuộc vào τ0, ρ và chiều cao z so với bề mặt địa hình. Nếu ở phía thượng lưu dòng không khí là bề mặt kéo dài, vận tốc gió cơ bản được tính theo công thức sau: 1 z U ( z ) = u* ln (1.1) κ z0 Trong đó, k là hệ số Kaman, z0 là độ cao nhám bề mặt, u* là vận tốc ma sát được tính theo công thức: u*2 κ= 2 (1.3) ρ Với τ0 là áp suất mặt cắt tại bề mặt địa hình và ρ là mật độ không khí. Đối với những trận gió đặc biệt, vận tốc ma sát nằm trong khoảng từ 1 đến 2m/s. U 10 là vận tốc gió cơ bản ứng với độ cao 10m.
Độ cao nhám bề mặt z0 biểu diễn kích thước của xoáy khí đặc trưng hình thành do ma sát giữa dòng khí và bề mặt địa hình. Giá trị của z0 phụ thuộc vào độ nhám bề mặt - 15 - địa hình được tạo nên bởi các vật thể gọi là vật nhám có trên đó. Các vật này tạo nên lực ma sát ngăn cản sự dịch chuyển của luồng khí và do đó làm tăng sự nhiễu loạn của luồng khí. Những vật thể có hình dạng thoát gió và bề mặt tương đối ít nhám như một quả đồi đều đặn, dài không được coi là vật nhám.
Nếu một số vật nhám phân bố đều đặn trên địa hình, độ cao nhám của bề mặt có thể xác định theo công thức kinh nghiệm sau đây: Ar z 0 = 0.4) At Trong đó h là độ cao vật nhám, Ar là diện tích tích chắn gió và At là diện tích trên mặt bằng của vật nhám. Nếu diện tích chắn gió và diện tích trên mặt bằng của vật nhám tương đương nhau về độ lớn, dòng khí sẽ chuyển lên đỉnh của vật nhám tạo nên một bề mặt mới. Về mặt toán học, sự thay đổi của cao độ cơ sở được biểu diễn trong công thức xác định vận tốc như sau: 1 z U ( z ) = u* ln ( 1.5) κ z0 Tiêu chuẩn châu âu EuroCode1 sử dụng phương pháp tính vận tốc gió cơ bản bằng hàm logarit đối với chiều cao tới 200m đã chia bề mặt địa hình thành 4 loại cơ bản và xác định các trị số κ, z0 như trong bảng dưới đây: Bảng 1. Phân loại địa hình và các hệ số κ, z0 (m) Phân loại độ nhám bề Loại bề mặt κ z0 mặt (m) I Trên mặt biển, bờ biển, hồ có ít nhất 5km bằng phẳng 0.01 trước gió, vùng nông thôn không có chướng ngại vật II Vùng trang trại có bờ rào, có các công trình nông 0.05 nghiệp nhỏ, nhà cửa, cây cối.
III Vùng ngoại ô, khu công nghiệp và vùng rừng lâu năm.3 IV Vùng đô thị có ít nhất 15% diện tích bề mặt bao phủ 0.24 1 bởi nhà cửa có độ cao lớn hơn 15m. Phương pháp phân tích vận tốc gió theo công thức kinh nghiệm. Để tiện sử dụng, một số tiêu chuẩn về gió sử dụng công thức kinh nghiệm sau để xác định vận tốc gió cơ bản: α z U ( z ) = U h 0 ( 1.6) z0 Trong đó Uh0 là vận tốc gió ở một độ cao tham chiếu và thường được lấy bằng 10m. Trị số α là trị số không đơn vị xác định tính nhám của bề mặt địa hình: 1 α = ln (z ref z 0 ) ( 1.7) Với zref là độ cao tham chiếu, zref có thể bằng chiều cao trung bình trong khu vực phù hợp với yêu cầu, Tiêu chuẩn 2737-1995 Tải trọng và tác động - Tiêu chuẩn thiết phân loại độ nhám bề mặt và cho trị số độ nhám α như bảng dưới đây: Bảng 1.
Phân loại độ nhám bề mặt theo tiêu chuẩn 2737-1995 Phân loại độ nhám Tình trạng bề mặt α bề mặt I Trên mặt biển, bờ biển.12 II Đồng ruộng, vườn cây, bãi đất rộng bằng phẳng, khu vực có 0.16 cây cối và khối kiến trúc thấp tầng thưa thớt. III Khu vực có cây cối và khối kiến trúc thấp tầng dày đặc.22 vực có khối kiến trúc tầng trung và tầng cao thưa thớt. Khu vực đồi núi thoải. IV Khu vực có khối kiến trúc tầng trung và tầng cao dày đặc.30 Khu vực đồi núi chia cắt mạnh.2: So sánh giữa phương pháp logarit (z0 = 0.02m) và phương pháp kinh nghiệm (α = 0.128) xác định vận tốc cơ bản.
Trị số nhám bề mặt khi địa hình đối với công trình cầu có sự thay đổi tương đối lớn trong phạm vi hẹp có thể xác định theo nguyên tắc sau: - Khi trong phạm vi xét tồn tại hai loại hình có mức độ nhám chênh nhau tương đối lớn, theo tỷ lệ diện tích lấy trị số bình quân của chúng ; - Khi trong phạm vi xét tồn tại hai loại hình có mức độ nhám gần kề nhau, lấy trị số của loại nhỏ hơn ; - Khi phía thượng, hạ lưu cầu tồn hai loại độ nhám khác nhau, lấy trị số bên phía tương đối nhỏ hơn ; - Khi chiều rồng sông cần vượt nhỏ (ví dụ loại nhỏ hơn 100m), phải lấy trị số thấp hơn một mức độ nhám đã xác định và theo mặt đất không gồm chiều rộng sông. - Khi cầu vượt qua eo biển hoặc eo núi tương đối chật hẹp, có khả năng xuất hiện hiện tượng thu hẹp hoặc địa hình nơi đó tương đối đặc biệt, có thể thông qua thí nghiệm hầm gió của địa hình mô phỏng, quan trắc tốc độ gió thực địa hoặc chiểu theo tài liệu tốc độ gió có liên quan để xác định tốc độ gió tiêu chuẩn thiết kế. Khi thiết kế công trình, vận tốc gió thiết kế Ud tính theo công thức sau: - 18 - U d = kxU ( z ) ( 1.8) Trong đó k là hệ số không thứ nguyên tính đến sự thay đổi vận tốcgió theo điều kiện địa hình và độ cao, hệ số k lấy theo bảng 1. Thành phần nhiễu loạn của gió.
Như đã trình bày ở trên, gió trong lớp biên khí quyển luôn có sự nhiễu loạn, điều đó có nghĩa là dòng khí là dòng rối với chu kì ngẫu nhiên biến đổi từ nhỏ hơn 1 giây cho đến hàng phút Vì thế không có cách nào khác là phải sử dụng các lý thuyết về xác suất để xác định đặc tính ngẫu nhiên của thành phần nhiễu loạn của dòng khí. Mức độ nhiễu loạn của gió mà đặc trưng là sự phân bố tần số và tương quan khônggian được biểu diễn thông qua các thông số: độ lệch chuẩn, thước đo cường độ nhiễu loạn, mật độ phổ năng lượng và hàm số tương quan không gian. Hệ số điều chỉnh vận tốc gió thiết kế Phân loại độ nhám mặt đất I II III IV Cao độ (m) 0<z≤5 1. Trên địa hình bằng phẳng, dòng khí được giả thiết là đồng nhất theo phương ngang, vì thế các đặc tính xác suất được coi là không đổi theo phương ngang.
Độ lệch chuẩn σu, σv và σw của các thành phần nhiễu loạn chỉ phụ thuộc vào độ cao z so với mặt đất. Kết quả một số nghiên cứu thực nghiệm của Davenport (1967), Haris (1970), Armitt (1976) cho thấy các trị số độ lệch chuẩn nói trên thường giảm rất chậm theo chiều cao đến độ cao bằng độ cao công trình. Theo Armitt (1976), trị số độ lệch chuẩn gần như không đổi đến 1/2 chiều cao của lớp biên khí quyển bên trong. Ở độ cao 100- 200m so với bề mặt nằm ngang giả định, giá trị gần đúng của độ lệch chuẩn của các - 20 - thành phần nhiễu loạn u theo hướng gió, v theo phương vương góc với hướng gió và w theo phương đứng là: σu = Au* ; σv ≈ 0.9) Trong đó hằng số A ≈ 2.
Cường độ nhiễu loạn Iu(z) của thành phần nhiễu loạn u theo hướng gió tại độ cao z được định nghĩa là: σ u (z) I u (z) = ( 1.10) U (z) Trong đó σu(z) là độ lệch chuẩn của thành phần nhiễu loạn u và U(z) là vận tốc gió cơ bản tại độ cao z. Đối với các địa hình bằng phẳng, cường độ nhiễu loạn xấp xỉ bằng: 1 I u (z) = ( 1.11) ln z z0 Trong đó z0 là độ cao nhám và giá trị σu/u* được lấy bằng 2. Ở trên độ cao từ 100-200m so với mặt đất, có thể coi các thành phần nhiễu loạn có phân bố chuẩn với giá trị bằng không và độ lệch chuẩn tính theo công thức (1. Cường độ nhiễu loạn với các độ cao thay đổi (z0 = 0.
Thước đo cường độ nhiễu loạn. Thước đo cường độ nhiễu loạn dùng để đo kích thước xoáy của luồng gió hoặc nói theo cách khác là độn lớn trung bình của từng cơn theo hướng gió cho trước.