Đặt vấn đề Khung là một trong những kết cấu thường gặp trong thực tế (như được minh họa trong Hình 1. Một phần tử khung được thành lập để mô hình một thanh thẳng có mặt cắt ngang bất kỳ, trong đó thanh có thể biến dạng cả trong hướng dọc trục thanh và hướng vuông góc trục thanh. Phần tử khung có thể chịu cả tải dọc trục, tải ngang và mô-men uốn. Vì vậy, một phần tử khung sở hữu các đặc tính của cả phần tử dàn và phần tử dầm.
Một phần tử khung có thể được phân tích trong hệ kết cấu phẳng và được gọi là khung phẳng hoặc trong hệ kết cấu không gian và được gọi là khung không gian. Các phần tử khung trong một kết cấu khung được liên kết với nhau bằng các liên kết cứng (hàn), do đó cả lực và mô-men có thể được truyền qua lại giữa hai phần tử khung kề nhau. Nhà khung thép 2 tầng ở Hà Nội Tòa nhà kết cấu thép 21 tầng ở Hà Nội Hình 1. Một số hình ảnh minh họa kết cấu khung thực tế.
(nguồn: http://www.) GVHD: NGUYỄN THỜI TRUNG 1 HV: ĐỖ QUÍ TOÀN LUẬN VĂN THẠC SĨ Từ nhận định sơ lược trên cho thấy, khung là một trong những kết cấu phổ biến được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như xây dựng dân dụng, cầu đường v. Do đó, việc chẩn đoán hư hỏng cho khung là vấn đề rất quan trọng, giúp việc quản lý công trình hiệu quả, tránh được thiệt hại về con người và tài sản v. Tuy nhiên, việc chẩn đoán hư hỏng cho kết cấu nói chung và kết cấu khung nói riêng là công việc khó khăn. Theo những thông tin và tài liệu tham khảo mà tác giả thu thập được, cho đến nay nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về chẩn đoán hư hỏng kết cấu vẫn còn giới hạn ở các phương pháp chẩn đoán vị trí hư hỏng mà chưa chẩn đoán mức độ hư hỏng.
Ngoài ra, một số phương pháp chẩn đoán mức độ hư hỏng kết cấu còn bị hạn chế khi có chi phí tính toán quá lớn, đặc biệt là cho những kết cấu lớn và đôi khi không thể chẩn đoán ra vị trí hư hỏng của kết cấu v. Luận văn này vì vậy được thực hiện nhằm góp phần khỏa lấp khoảng trống nghiên cứu này, với mục đích trình bày một phương pháp hiệu quả để chẩn đoán vị trí và mức độ hư hỏng kết cấu khung. Tổng quan tài liệu Trên thế giới, việc chẩn đoán hư hỏng kết cấu đã được nghiên cứu trong nhiều thập kỉ qua. Trong số các phương pháp phổ biến, phương pháp chẩn đoán dựa trên các tham số động lực học luôn thu hút sự quan tâm của nhiều học giả nghiên cứu.
Một số hướng nghiên cứu chính có thể kể đến như sau: - Thứ nhất là hướng nghiên cứu chẩn đoán tìm vị trí hư hỏng với một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: ➢ Cawley và Adams (1979) đã nghiên cứu kỹ thuật rung cho kiểm tra không phá hủy các kết cấu sợi tổng hợp. Nghiên cứu đã đề xuất một phương trình phát hiện hư hỏng dựa trên sự thay đổi của tần số ở dạng dao động thứ i và dạng dao động thứ j trong tấm dẻo có gia cường sợi carbon (carbon fibre- reinforced plastics- CFRP). Vị trí hư hỏng được chẩn đoán bằng cách giảm thiểu các sai số giữa các thay đổi của tần số đo được ở hai dạng dao động và những thay đổi đó giúp xác định được một mô hình suy giảm độ cứng cục bộ. Trong GVHD: NGUYỄN THỜI TRUNG 2 HV: ĐỖ QUÍ TOÀN LUẬN VĂN THẠC SĨ phương trình này, hư hỏng trong nhiều vị trí và sự thay đổi hệ cản đều không được xem xét.
➢ Messina và cộng sự (1998) đã chẩn đoán hư hỏng kết cấu bằng phương pháp thống kê và độ nhạy. Nghiên cứu cho thấy có thể chẩn đoán vị trí hư hỏng chính xác hơn nếu sự thay đổi của tần số trong kết cấu hư hỏng và kết cấu ban đầu được chuẩn hóa tương đối với các tần số của kết cấu ban đầu. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ ra rằng độ nhạy của tần số tự nhiên trong việc chẩn đoán hư hỏng là tương đối thấp, việc chẩn đoán chỉ có thể thực hiện được khi mức độ hư hỏng lớn và các phép đo phải được thực hiện với độ chính xác cao để đạt được kết quả đáng tin cậy. Hơn nữa, khả năng chẩn đoán vị trí hư hỏng có phần hạn chế, vì các tần số tự nhiên là các thông số toàn cục chỉ có thể được xác định ở những tần số cao.
➢ Bernal (2002) đã đề xuất một tập “véc-tơ tải” để xác định vị trí hư hỏng. Đây là một kỹ thuật khoanh vùng hư hỏng trong kết cấu, và có thể được coi là tuyến tính ở các trạng thái trước và sau hư hỏng. Nghiên cứu tập trung xác định một tập các véc-tơ được xem là các véc-tơ hư hỏng (DLV) trong đó các ứng suất của các phần tử hư hỏng sẽ có độ lớn bằng 0. Nghiên cứu đã thành công với một số kết cấu đơn giản.
Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn còn nhược điểm do độ chính xác chưa cao và do việc chẩn đoán nhầm cả những phần tử không hư hỏng. ➢ Lazarov và Trendafilova (2004) đã sử dụng phương pháp rung để phát hiện hư hỏng trong kết cấu tấm. Nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng của hư hỏng đối với các dạng dao động và tần số riêng của kết cấu. Từ hai mô hình số và thực nghiệm, tác giả đã chứng minh các tần số tự nhiên của các tấm mỏng không bị ảnh hưởng đáng kể bởi hư hỏng, nhưng các dạng dao động lại bị thay đổi đáng kể khi có sự xuất hiện của hư hỏng.
Từ đó các tác giả cũng đề xuất một chỉ số xác định hư hỏng dựa trên sự thay đổi của dạng dao động. GVHD: NGUYỄN THỜI TRUNG 3 HV: ĐỖ QUÍ TOÀN LUẬN VĂN THẠC SĨ ➢ Pawar và Ganguli (2005) đã nghiên cứu một phương pháp giám sát sức khỏe kết cấu sử dụng hệ thống di truyền mờ. Nghiên cứu đã sử dụng sự thay đổi tần số để chẩn đoán vết nứt của nền trong kết cấu hỗn hợp (composite) thành mỏng. Các kết cấu được đề cập trong nghiên cứu này là dầm, ống và cánh quạt máy bay trực thăng.
➢ Gao và cộng sự (2007) đã nghiên cứu công trình “thực nghiệm xác định hư hỏng linh hoạt dựa trên phương pháp véc-tơ định vị hư hỏng (DLV)”. Đây là một trong những phương pháp chẩn đoán vị trí hư hỏng trong kết cấu đầy hứa hẹn dựa trên việc tính toán một tập các véc-tơ tải từ sự thay đổi của ma trận độ mềm trước và sau khi hư hỏng. Trong nghiên cứu này, phương pháp DLV được xác nhận bằng thực nghiệm cho một kết cấu dàn không gian ba chiều, trong đó các cấu kiện dàn ban đầu được thay thế bởi các cấu kiện dàn với độ cứng được làm suy giảm. Kết quả thực nghiệm cho thấy phương pháp DLV có thể chẩn đoán tốt vị trí hư hỏng của các thanh dàn bị làm suy giảm độ cứng.
Tổng quan, hướng nghiên cứu thứ nhất này tuy nhiên vẫn còn một số nhược điểm như: (1) có thể chẩn đoán nhầm; và (2) không xác định được mức độ hư hỏng của kết cấu. - Thứ hai là hướng nghiên cứu chẩn đoán vị trí và mức độ hư hỏng sử dụng thuật toán tối ưu với một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: ➢ Araújo dos Santos và cộng sự (2006) đã đề xuất một kỹ thuật mới để tối ưu hóa việc sử dụng các trích xuất dạng dao động để chẩn đoán hư hỏng trong tấm hỗn hợp (composite) nhiều lớp. Nghiên cứu này tuy nhiên cũng tồn tại một số hạn chế như: (1) việc đo lường các dạng dao động đòi hỏi nhiều cảm biến; (2) việc đo đạc dạng dao động dễ bị nhiễu hơn so với tần số tự nhiên; (3) phương pháp dựa trên sự thay đổi các dạng dao động ít nhạy đối với các hư hỏng nhỏ. ➢ Cha Yoang-Jin và cộng sự (2012) đã nghiên cứu một thuật toán di truyền đa mục tiêu để phân phối hiệu quả chi phí của thiết bị truyền động và cảm GVHD: NGUYỄN THỜI TRUNG 4 HV: ĐỖ QUÍ TOÀN LUẬN VĂN THẠC SĨ biến trong kết cấu lớn.
Nghiên cứu đề xuất một thuật toán di truyền đa mục tiêu (Moga) cho các vị trí tối ưu của thiết bị điều khiển và cảm biến trong kết cấu. Hàm mục tiêu được rút gọn lại nhằm giảm chi phí tính toán, đồng thời đảm bảo tối ưu hiệu suất điều khiển phản ứng rung trong thiết kế hệ thống điều khiển cơ cấu. Nghiên cứu đã ứng dụng thành công cho kết cấu khung phẳng. ➢ Seyedpoor (2012) đã nghiên cứu “một phương pháp hai giai đoạn để chẩn đoán hư hỏng kết cấu dựa trên phương thức sử dụng chỉ số năng lượng biến dạng và tối ưu hóa bầy đàn”.
Trong nghiên cứu này, một phương pháp hai giai đoạn được đề xuất nhằm chẩn đoán đúng vị trí và mức độ hư hỏng trong trường hợp có nhiều hệ thống kết cấu. Trong giai đoạn đầu, một chỉ số dựa trên năng lượng biến dạng (MSEBI) được trình bày để chẩn đoán các vị trí hư hỏng của kết cấu. Năng lượng biến dạng được tính toán dựa trên các thông tin trích xuất từ nghiệm số của phương pháp phần tử hữu hạn. Trong giai đoạn hai, mức độ hư hỏng thực tế được chẩn đoán thông qua giải thuật tối ưu hóa bầy đàn (PSO) dựa trên kết quả chẩn đoán vị trí hư hỏng của giai đoạn đầu tiên.
Kết quả số chỉ ra rằng sự kết hợp của MSEBI và PSO có thể cung cấp một công cụ đáng tin cậy để chẩn đoán khá chính xác các hư hỏng của kết cấu. Tổng quan, nhược điểm chính của hướng nghiên cứu thứ hai này là chi phí tính toán rất cao, và thậm chí không thể áp dụng cho các công trình lớn. Tại Việt Nam, phần lớn các nghiên cứu trong nước chẩn đoán hư hỏng kết cấu sử dụng các phương pháp dựa trên tần số và sóng v. Một số hướng nghiên cứu chính có thể được đề cập như: - Thứ nhất là hướng nghiên cứu dùng sóng wavelet để chẩn đoán hư hỏng của kết cấu với các công trình tiêu biểu như: ➢ Trần Văn Liên, Trần Tuấn Khôi (2010) đã chẩn đoán các vết nứt trong dầm bằng các phân tích Wavelet.
➢ Trần Văn Liên (2011) nghiên cứu chẩn đoán vị trí và độ sâu vết nứt trong kết cấu hệ thanh sử dụng phân tích wavelet. GVHD: NGUYỄN THỜI TRUNG 5 HV: ĐỖ QUÍ TOÀN LUẬN VĂN THẠC SĨ ➢ Đoàn Lê Phương Hà (2011) chẩn đoán khung có chứa vết nứt bằng phương pháp hai giai đoạn Wavelet kết hợp thuật giải di truyền.