CHƯƠNG 1: TONG QUAN LY THUYET VA CAC NGHIEN CỨU TRƯỚC ĐÓ. Giới thiệu chung. Cơ sở lý luận và thực nghiệm.- --- - + 5 St ST HH ngư 2 1. Lý thuyết cấu trúc vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp (mô hình MM không có thu).
Lý thuyết cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp (trường hợp có thUẾ) _. SE TT TH HH HH HH TH HH gưệy 4 1. Lý thuyết đánh đổi — tĩnh. Lý thuyết trật tự ưu tiên (thông tin bất cân xứng).
Các nghiên cứu trước đây .-- --- -- «+ TH HT HT ngư 9 $⁄09. 10 CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÁU TRUC VON DOANH NGHIỆP NIÊM YÉT Ở VIỆT NAM. Thực trạng cấu trúc vốn doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam. Cầu trúc vốn các ngành tại Viet NOM.
Cấu trúc vốn các công ty tại VIỆT ÌNGHH1. Nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam. Nghiên cứu tác động của cầu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam theo cách tiếp cận ROE. Nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp theo cách tiếp cận về giá trị thị trường và giá tị số sách của doanh nghiệp.
31 CHƯƠNG 3: KÉT LUẬN VÀ KHUYÉẾN NGHỊ,. 38 CHUONG 1: TONG QUAN LY THUYET VA CAC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÓ 1. Giới thiệu chung Làm sao để một doanh nghiệp tối ưu hóa cấu trúc vốn? Mục tiêu cơ bản của việc tối ưu hóa cấu trúc vốn là đưa ra quyết định về tỷ lệ các thành phần của nguồn vốn, bao gồm Nợ và Vốn chủ sở hữu nhằm tối đa giá trị doanh nghiệp đồng thời tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn trung bình. Suốt 50 năm qua, mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp là van dé quan trọng và gây tranh cãi trong lĩnh vực tài chính.
Có lý thuyết thì đưa ra mối quan hệ tích cực giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp nhưng cũng có lý thuyết nêu điều ngược lại, thậm chí cũng có lý thuyết khẳng định 2 biến trên không có quan hệ về mặt thống kê (Modigliani va Miller, 1958, 1963; Modigliani va Miller, 1963; Jensen va Meckling, 1976; Miller, 1977; Myer, 1977,1984; Myer va Majluf, 1984; Graham, 2000; Baker va Wurgler, 2002; Welch, 2004). Tương tự thé, các nghiên cứu thực nghiệm cũng đưa ra các kết quả không thống nhất (Friend va Lang, 1988; Barton et al., 1989; Bos va Fetherston, 1993; Michaels et al., 1999; Booth et al., 2001; Abor, 2005; Mollik, 2005;Bonaccorsi di Patti, 2006; Kyerboach-Coleman, 2007). Diéu nay co thể là do 2 van dé: thứ nhất, liên quan đến việc lựa chọn mô hình ước lượng; và thứ hai, liên quan đến đặc điểm riêng biệt của từng mô hình. Từ những lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm có kết quả không thống nhất trên, chúng tôi đã lựa chọn mô hình hồi quy bảng theo ngưỡng — Panel Threshold Regression Model (PTRM) của Hansen (1999) để kiểm tra liệu có tý lệ Nợ tối ưu mà doanh nghiệp có thê tối đa giá trị doanh nghiệp, và xác định tỷ lệ Nợ tối đa doanh nghiệp có thé được tài trợ.
Theo lưu ý của Rajan và Zingales (1995), những nghiên cứu trước về cấu trúc vốn thường dựa trên dữ liệu tại Hoa Kỳ. Câu hỏi đặt ra là lý thuyết về cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp có thể áp dụng tại những thị trường mới nổi, chưa phát triển như Việt Nam hay không. Prasad et al. (2001) chuyên viên nghiên cứu về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp, đã đưa ra kết luận rằng hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn đều liên quan đến các quốc gia công nghiệp lớn, nhưng lại có rất ít công trình thực hiện tại các thị trường đang phát triển và đổi mới: (1) Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mới từ nên kinh tế tập trung sang nền kinh tế theo định hướng thị trường.
(2) Hầu hết các công ty niêm yết tại Việt Nam đều chuyên đổi từ các doanh nghiệp nhà nước. Trong thời gian thực hiện để tài này, các công ty niêm yết vẫn thuộc quyền kiểm soát của Nhà nước sau cổ phần hóa. Vì vậy, với trường hợp riêng biệt của Việt Nam, dé tai sẽ khám phá tương quan giữa cấu trúc vốn và giá trị các công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Cơ sở lý luận và thực nghiệm Hiện có 4 lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn: Cấu trúc vốn không liên quan, cấu trúc vốn có liên quan, lý thuyết đánh đổi tĩnh (static trade-off theory), lý thuyết về trật tư ưu tiên (pecking order theory).
Lý thuyết cầu trúc vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp (mô hình MM không có thuế) Modilligani va Miller (1958) da tìm hiểu xem chỉ phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vay nợ. Đề chứng minh một lý thuyết khả thi, Modilligani và Miller (MM) đã đưa ra một số giả định đơn giản rất phổ biến trong lý thuyết tài chính: 1. thị trường vốn là hoàn hảo, vì vậy sẽ không có các chỉ phí giao dịch và tỷ lệ vay giống như tỷ lệ cho vay và bằng với tỷ lệ vay miễn phí; 2. Giả định về thuế 3.
Giả định về chi phi giao địch 4. Gia định về chỉ phí khốn khó tài chính Về nội dung, lý thuyết MM được phát biểu thành hai mệnh đề quan trọng. Mệnh đề thứ nhất (I) nói về giá trị công ty. Mệnh đề thứ hai (ID nói về chi phí sử dụng vốn.
Các mệnh đền này lần lượt sẽ được xem xét trường hợp không có thuế. Đây là trường hợp đơn giản nhất khi xem xét lý thuyết M&M. Trong trường hợp này tất cả các giả định của M&M đều được tuân thủ nhằm đơn giản hóa vấn đề cần nghiên cứu. Các giả định đầy đủ của lý thuyết M&M bao gồm: - Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân - Không có chi phí giao dịch - Không có chi phí phá sản và chi phí khó khăn tài chính - Cá nhân và công ty đều có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau - Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo.
Lý thuyết MM được đúc kết đưới 2 mệnh đề sau: L Trong điều kiện không có thuế, giá trị công ty có vay nợ (VL) bằng giá trị của công ty không có vay nợ (VU), nghĩa là VŨ = VL. 1L — Lợi nhuận yêu câu trên vốn cô phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính (tỷ số nợ). Về mặt toán học, mệnh đề MM số II có thể được biểu diễn bởi công thức: To = % + (Tụ — Tạ) = trong đó: r„: lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần ?„: chỉ phí sử dụng vốn cô phần (khi doanh nghiệp sử dụng 100% VCP) Tạ: chi phí sử dụng nợ D: giá trị nợ E: giá trị vốn cổ phần và WACC=r, (rong điều kiện không có thuế, chỉ phí sử dụng vốn trung bình không đổi bất chấp cơ cấu vốn thay đổi như thể nào) Chi phí sử dụng vốn Te wacc =Tu Ta >» D/E Ménh dé MMII khi khong co thué Hình 1. Mệnh đề MM khi không có MM II khi không có thuế Như vậy, trong một thị trường hoàn hảo và cô lập, lý thuyết cấu trúc vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp của Modigliani và Miller (1958) có kết luận rằng giá trị doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn, và không tồn tại cấu trúc vốn tối ưu.
Tuy nhiên, giả định về thị trường hoàn hảo với không chỉ phí giao dịch, không thuế, kì vọng của các nhà đầu tư đều giống nhau và thông tin bất cân xứng không xảy ra là không thực tế bởi vì thuế, chỉ phí đại diện, bôi trơn và thông tin bất cân xứng đều tồn tại (theo Moddigliani và MIler, 1963; Jensen và Meckling, 1976; Meyer, 1984; Myer và Majluf, 1984). Lý thuyết cầu trúc vốn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp (trường hợp có thuế) Trong bài cứu sau đó, Moddigliani và Miller (1963) đã nới lỏng giả định trên bằng cách tách phần lợi ích từ thuế thu nhập doanh nghiệp thành yếu tố quyết định cấu trúc vốn doanh nghiệp. Tính năng chính của thuế được xem như phần lợi có được từ việc khấu trừ thuế. Doanh nghiệp khi trả thuế sẽ nhận được phần bù từ “lá chắn thuế”, nên trên thực tế số thuế phải nộp sẽ ít đi.
Nói cách khác, giá trị của doanh nghiệp sẽ tăng lên từ việc sử dụng nguồn vốn đi vay do chỉ phí lãi vay sẽ làm giảm trừ thuế. Như vậy, nghiên cứu này đã thừa nhận ngầm rằng cấu trúc vốn có ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Hai mệnh đề (1) và (1) được phát biểu lại như sau: I. Giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không có vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế.
Về mặt toán học, mệnh đề M&M sé I trong trường hợp có thuế được điễn tả bởi công thức: VL =VU+ T. Trong đó: VŨ: giá trị công ty không vay nợ. VL;: giá trị công ty có vay nợ. T,D: hiện giá lá chắn thuế II.
Lợi nhuận yêu cầu trên vốn cô phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ nhưng mối quan hệ này được diễn tả bởi công thức: D T„ = Tụ + (Tạ — T)(1 —T,D) = r„: lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần ?„: chỉ phí sử dụng vốn cô phần (khi doanh nghiệp sử dụng 100% VCP) Tạ: chi phí sử dụng nợ D: giá trị nợ E: giá trị vốn cổ phần T,D: hiện giá lá chắn thuế Như vậy, theo Moddigliani và Miller (1963), các doanh nghiệp nên tài trợ bằng vốn đi vay càng nhiều càng có khả năng khuếch đại giá trị của doanh nghiệp (tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ). Tương tự với nghiên cứu trên, Miller (1977) đã tách biệt cả 2 phần thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân trong mô hình của mình. Miller (1977) đã xác định mức độ tương đối của từng phần thuế trên là yếu tố quyết định đến giá trị doanh nghiệp, và phần lợi từ sử dụng vốn vay không nhiều như Moddigliani và Miler (1963) đã minh chứng. Gần đây, công trình nghiên cứu của Graham (2000) cho rằng vốn hóa dòng thuế hưởng lợi từ việc sử dụng nợ chỉ khoảng 10% giá trị doanh nghiệp và phần thiệt hại từ thuế thu nhập cá nhân sẽ làm giảm khoảng 2/3 phần lợi nêu trên trước khi Luật cải cách thuế thu nhập 1986 được ban hành và sau khi ban hành thì phần thiệt hại giảm chỉ còn dưới 1⁄2.
Lý thuyết đánh đổi — tĩnh Lý thuyết này được đề xuất bởi Myers vào 1977.