CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢNG BÁ THƯƠNG HIỆU 3 1. Một số khái niệm 1. Thương hiệu Thương hiệu là cái tên của hàng hóa hoặc của đơn vị. Thương hiệu là nhãn hiệu, gồm tên và logo (biểu tượng) của hàng hóa đã được đăng ký bảo hộ tại Cục Sở hữu trí tuệ.
Thương hiệu còn là uy tín, hình tượng và danh tiếng của hàng hóa và của đơn vị. Thương hiệu là đối tượng bảo hộ của pháp luật sở hữu công nghiệp (tên thương mại, xuất xứ hàng hóa, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, bí mật thương mại, sang chế và giải pháp hữu ích). Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO (World Itellectual Property Organization): Thương hiệu là một dấu hiệu đặc biệt (hữu hình hoặc vô hình) để nhận biết một sản phẩm, một hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất, cung cấp bởi một tổ chức hay một cá nhân. Theo Hiệp hội nhãn hiệu thương mại quốc tế ITA (International Trademark Association): Thương hiệu bao gồm những từ ngữ, tên gọi, biểu tượng hay bất kì sự kết hợp nào giữa các yếu tố trên được dùng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hoá của các nhà sản xuất hoặc người bán với nhau và để xác định nguồn gốc của hàng hoá đó.
Theo Hiệp hội Marketing Mỹ: Thương hiệu là tập hợp các dấu hiệu để phân biệt các loại hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác để phân biệt chính doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Tóm lại ta có thể hiểu: Thương hiệu là tập hợp tất cả các yếu tố vô hình và hữu hình của một sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ mà khách hàng có thể cảm nhận được sự khác biệt giữa tổ chức hoặc cá nhân này với tổ chức hoặc cá nhân khác. Quảng bá thương hiệu Là những chiến lược tiếp thị truyền thông của các doanh nghiêp. – Đây là một quá trình lâu dài bao gồm nhiều hoạt động truyền thông kết hợp với nhau.
Các hoạt 4 động này chủ yếu nhằm mục đích thông báo, thuyết phục khách hàng mục tiêu quyết định mua và sử dụng sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp. Vai trò của thương hiệu Xây dựng thương hiệu giúp mọi người nhận diện sản phẩm: Thương hiệu không chỉ là một cái tên, một thiết kế logo hay màu sắc đặc trưng; thương hiệu là tập hợp những cảm nhận của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ với đầy đủ các khía cạnh lý tính và cảm tính. Nếu xem xét thương hiệu như một con người. Mỗi người đều có một cá tính, một ngoại hình, một phong cách ăn mặc, cách giao tiếp riêng, họ mang đến những giá trị riêng, họ có những mối quan hệ và những câu chuyện của riêng họ.
Chính những điều này đã xác lập chúng ta là ai và với thương hiệu doanh nghiệp cũng như vậy. Khác biệt hóa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh: Việc xây dựng thương hiệu giúp doanh nghiệp khác biệt hóa sản phẩm của mình, đó là lý do mà khi người tiêu dùng bước vào siêu thị sẽ chọn nhặt sản phẩm của bạn thay vì sản phẩm của rất nhiều đối thủ khác bên cạnh. Khách hàng trung thành và gắn bó với thương hiệu, chứ không phải sản phẩm. Thương hiệu giúp doanh nghiệp kết nối với cảm xúc khách hàng: Xây dựng thương hiệu giúp cho doanh nghiệp tạo niềm tin với thị trường mục tiêu, từ đó tạo ra lòng trung thành với thương hiệu.
Giúp truyền tải những giá trị cảm xúc của của doanh nghiệp tới khách hàng để khách hàng có thể cảm nhận được. Khiến khách hàng dễ dàng lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp: Thương hiệu tốt giúp khách tự đưa ra cho mình những lý do thuyết phục để chọn sản phẩm/ dịch vụ của thương hiệu đó. Một công ty truyền tải thông điệp giá trị rõ ràng và thực sự hành động vì thông điệp đó sẽ thu hút lượng khách hàng trung thành thật sự. Đây là lý do tại sao thương hiệu mạnh thường được coi là “các phím tắt” trong quá trình ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng.
Một sản phẩm phù hợp cùng với trải nghiệm thương hiệu tích cực giúp khách hàng dễ dàng lựa chọn hơn, bởi vì họ biết chính xác những gì họ sẽ trải nghiệm khi sử dụng sản phẩm của thương hiệu đó. 5 Thu hút nhân tài cho doanh nghiệp: Một thương hiệu mạnh sẽ khiến cho những người trẻ tài năng phải khao khát gia nhập vào đội ngũ của họ. Google là một minh chứng tuyệt vời cho điều này, họ đăng tải công khai những gì họ cung cấp cho nhân viên từ những buffet 3 bữa 1 ngày, không gian làm việc và giải trí độc đáo cho đến những đồng nghiệp cực tài năng. Khẩu hiệu tuyển dụng của Google là “Làm những điều thú vị”.
Xây dựng lòng tin với các bên liên quan: Chiến lược xây dựng thương hiệu không chỉ góp phần tăng lượng khách hàng hay để thu hút nhân tài cho doanh nghiệp, mà nó còn giúp các công ty tăng mức độ uy tín, từ đó thu hút nhiều bên liên quan như nhà đầu tư, đối tác kinh doanh, nhà cung cấp, chính phủ,… Các nhà cung cấp sẽ muốn làm việc với các công ty được biết đến vì tính chuyên nghiệp, các nhà đầu tư sẽ rót vốn vào các công ty có uy tín cao. Thống nhất và đồng bộ chiến lược của doanh nghiệp: Để xây dựng thương hiệu thành công, cả tổ chức phải trên cùng một con thuyền. Tất cả mọi người từ CEO đến nhân viên phải chung môt tầm nhìn và mục tiêu. Đó là động lực thúc đẩy doanh nghiệp đi đến thành công.
Nếu mọi nhân viên đều thực sự hiểu và tin tưởng vào những gì họ đang làm thì điều đó sẽ truyền cảm hứng đến khách hàng của doanh nghiệp. Vì vậy, việc có một chiến lược thương hiệu rõ ràng và cung cấp đầy đủ thông tin về mục đích, giá trị của chiến lược thương hiệu đó đến nhân viên là điều cực kỳ quan trọng. Tạo thuận lợi trong việc mở rộng thị trường: Thương hiệu mạnh có sức hút rất lớn với thị trường mới, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc mở rộng thị trường và thu hút khách hàng tiềm năng, thậm chí còn thu hút cả khách hàng của các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh. Điều này đặc biệt có lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thương hiệu giúp các doanh nghiệp này giải được bài toán hóc búa về thâm nhập, chiếm lĩnh và mở rộng thị trường.
Vai trò của quảng bá thương hiệu Quảng bá thương hiêu– có khả năng tạo ra ấn tượng mạnh mẽ và lâu dài trong tâm trí người tiêu dùng, qua đó tăng cường sự tin tưởng và lòng trung thành đối với thương hiêu. – Nó là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp nổi bật giữa đám đông và cạnh tranh hiệu quả hơn trong thị trường ngày càng cạnh tranh gây gắt. Các công cụ quảng bá thương hiệu 1. Quảng cáo Quảng cáo: Là bất kỳ một hình thức giới thiệu gián tiếp hoặc khuếch trương các ý tưởng, sản phẩm hoặc dịch vụ, do một người (tổ chức) nào đó muốn quảng cáo chi tiền ra để thực hiện.
*Các phương tiện quảng cáo: Quảng cáo trực tiếp thông qua kênh bán hàng trực tiếp cá nhân: Người bán hàng sẽ quảng cáo cho khách hàng mục tiêu về hàng hóa, điểm mạnh của hàng hóa, dịch vụ sau bán, về giá cả và phương thức thanh toán, sự hấp dẫn, lôi cuốn của thương hiệu. Hình ảnh của doanh nghiệp và thương hiệu phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ nhân viên bán hàng trực tiếp, vì vậy, các công ty muốn sử dụng đội ngũ này cần đào tạo cho nhân viên về kỹ năng bán hàng, kiến thức, triết lý thương hiệu, hiểu biết về công ty, kiến thức bán hàng, biết lắng nghe và chia sẻ với khách hàng. Quảng cáo trên phương tiện truyền thông: Ưu thế của phương tiện này là phạm vi ảnh hưởng rộng, phong phú, tuy nhiên chi phí cần sử dụng và tần suất sử dụng lớn. Với quảng cáo trên truyền hình, quảng cáo mô tả được âm thanh, hình ảnh, chuyển động, màu sắc, tất cả tạo nên nét riêng biệt của một thương hiệu, cho khách hàng có sự cảm nhận sâu sắc từ thị giác đến thính giác.
Tuy nhiên, chi phí quảng cáo trên truyền hình rất cao, thời gian phát hành bị hạn chế. Quảng cáo trên radio cũng là phương tiện phổ biến với khả năng thông tin nhanh, rộng nhưng nó lại phụ thuộc vào âm thanh, ngôn ngữ biểu đạt nên bị hạn chế với những thương hiệu cần mô tả bằng hình ảnh, màu sắc. Quảng cáo trên báo chiếm tỷ lệ cao vì nó đảm bảo được thông tin trên các thị trường lựa chọn, giúp doanh nghiệp dễ dàng định vị nhóm khách hàng để quảng cáo, tuy nhiên thời gian sống của báo ngắn, chất lượng hình ảnh không cao, để khắc phục điều này, nhiều doanh nghiệp lựa chọn quảng cáo trên tạp chí vì thời gian sống của tạp chí dài nên nội dung quảng cáo được xem nhiều lần, chất lượng hình ảnh đvp, nhưng hạn chế lớn nhất là quảng cáo trên tạp chỉ tập trung phần đầu, giữa, cuối cuốn tạp chí nên cạnh tranh cao, chi phí quảng cáo cao, thời gian duyệt lâu. 7 Quảng cáo trực tiếp: Dùng thư tín, điện thoại, email, tờ rơi, internet, gửi cataloge.
Hình thức này rất có hiệu quả về mặt kinh tế, thông tin được truyền tải trực tiếp đến khách hàng mục tiêu, thường được sử dụng nhiều với khách hàng quen thuộc của doanh nghiệp. Phương thức quảng cáo này mang tính kịp thời cao, đồng thời có thể chọn lựa được đối tượng khách hàng và cá nhân hóa thị trường. Tuy nhiên, hiện nay có quá nhiều doanh nghiệp sử dụng phương thức này nên người tiêu dùng không muốn chấp nhận thư rác và khả năng chấp nhận thư của đối tượng mục tiêu thấp. Quảng cáo phân phối: Băng rôn, áp phích, pano, bảng đèn điện tử….Các phương tiện này cho phép khai thác tối đa các loại kích cỡ, hình dạng khác nhau của quảng cáo, thế nhưng hạn chế của việc sử dụng công cụ này là sức hút người nhận tin kém.
Quảng cáo tại điểm bán: Dùng người giao hàng tại các trung tâm thương mại, tận dụng lối đi, quầy kệ, bố trí âm thanh, tivi, hoặc phương tiện truyền thông ngay tại cửa hàng để tác động trực tiếp đến người mua. Số lượng các điểm bán lớn đòi hỏi chi phí khá cao nên khó phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên đối với doanh nghiệp này nỗ lực xây dựng thương hiệu tại điểm bán chỉ là một không gian hvp để dán trang quảng cáo hoặc được trưng bày tại vị trí thuận tiện với người mua.