Phân Tích Hoạt Động Huy Động Vốn Tại Ngân Hàng TMCP Sacombank Chi Nhánh Thăng Long

Luận văn phân tích hoạt động huy động vốn tại ngân hàng TMCP Sacombank chi nhánh Thăng Long, góp phần nâng cao hiệu quả tài chính.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Giới thiệu về ngân hàng thương mại

1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại

1.2. Vai trò của Ngân hàng thương mại

1.3. Chức năng của Ngân hàng thương mại

1.4. Phân tích hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.4.1. Khái niệm về huy động vốn

1.4.2. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại

1.4.3. Phân loại căn cứ theo thời gian

1.4.4. Phân loại căn cứ theo đối tượng huy động

1.4.5. Phân loại theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn

1.4.6. Phương pháp phân tích huy động vốn của NHTM

1.4.7. Hệ thống chỉ tiêu phân tích hoạt động huy động vốn tại NHTM

1.4.8. Phân tích sự biến động nguồn vốn

1.4.9. Các tiêu chí đánh giá hoạt động huy động vốn của Ngân hàng

1.4.10. Phân tích hoạt động huy động vốn theo loại tiền

1.4.11. Phân tích hoạt động huy động vốn theo đối tượng khách hàng

1.4.12. Phân tích hoạt động huy động vốn theo thời hạn

1.4.13. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SACOMBANK – CHI NHÁNH THĂNG LONG

2.1. Sơ lược về Ngân hàng TMCP Sacombank Thăng Long

2.1.1. Giới thiệu chung

2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển

2.1.3. Chức năng và nhiệm vụ

2.1.4. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng

2.1.5. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng những năm gần đây

2.2. Phân tích hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sacombank Chi nhánh Thăng Long thời gian qua

2.2.1. Phân tích sự biến động nguồn vốn của NHTM CP Sacombank Chi nhánh Thăng Long thời gian qua

2.2.2. Phân tích tình hình huy động vốn qua một số chỉ tiêu

2.2.3. Phân tích hoạt động huy động

2.2.4. Phân tích hoạt động huy động vốn theo loại tiền

2.2.5. Phân tích huy động vốn theo đối tượng khách hàng

2.2.6. Phân tích huy động vốn theo thời hạn

2.2.7. Đánh giá về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Sacombank Thăng Long trong thời gian qua (2016 – 2020)

2.2.7.1. Kết quả đạt được
2.2.7.2. Những mặt còn hạn chế
2.2.7.3. Nguyên nhân của những hạn chế
2.2.7.3.1. Nguyên nhân khách quan
2.2.7.3.2. Nguyên nhân chủ quan

3. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SACOMBANK CHI NHÁNH THĂNG LONG

3.1. Định hướng phát triển hoạt động huy động vốn tại Sacombank Thăng Long

3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Thăng Long

3.2.1. Tập trung xây dựng hình ảnh và uy tín của thương hiệu Sacombank trên thị trường

3.2.2. Đẩy mạnh hoạt động Marketing tiền gửi của các tổ chức kinh tế xã hội cũng như tiền gửi từ dân cư

3.2.3. Thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt phù hợp với điều kiện thực tế

3.2.4. Nâng cao công tác quản lý huy động vốn

3.2.5. Nâng cao chất lượng phúc vụ khách hàng

3.2.6. Chú trọng đến chính sách nhân sự

3.2.7. Phát triển thêm các sản phẩm mới, đa dạng hóa các hình thức huy động, tăng cường các khoản thu từ dịch vụ

3.2.8. Kiến nghị với NHNN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động huy động vốn tại Sacombank Thăng Long

Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sacombank – Chi nhánh Thăng Long đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn lực tài chính cho nền kinh tế. Ngân hàng không chỉ là nơi tiếp nhận tiền gửi từ khách hàng mà còn là cầu nối giữa các nhà đầu tư và những người cần vốn. Việc phân tích hoạt động huy động vốn giúp hiểu rõ hơn về tình hình tài chính và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh thị trường hiện nay.

1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động huy động vốn

Hoạt động huy động vốn là quá trình ngân hàng thu hút nguồn vốn từ các cá nhân và tổ chức. Điều này không chỉ giúp ngân hàng tăng cường khả năng cho vay mà còn đảm bảo tính thanh khoản. Huy động vốn hiệu quả sẽ tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng và góp phần vào sự phát triển kinh tế.

1.2. Tình hình huy động vốn tại Sacombank Thăng Long

Trong những năm qua, Sacombank Thăng Long đã có những bước tiến đáng kể trong việc huy động vốn. Ngân hàng đã áp dụng nhiều hình thức huy động khác nhau, từ tiền gửi tiết kiệm đến các sản phẩm đầu tư, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tối ưu hóa nguồn lực tài chính.

II. Những thách thức trong hoạt động huy động vốn tại Sacombank Thăng Long

Mặc dù Sacombank Thăng Long đã đạt được nhiều thành công trong hoạt động huy động vốn, nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Các yếu tố như cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng khác, biến động lãi suất và sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng đã ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của ngân hàng.

2.1. Cạnh tranh từ các ngân hàng khác

Sự gia tăng số lượng ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính phi ngân hàng đã tạo ra áp lực lớn lên Sacombank Thăng Long. Các ngân hàng khác thường đưa ra lãi suất hấp dẫn hơn, khiến khách hàng có xu hướng chuyển đổi.

2.2. Biến động lãi suất và ảnh hưởng đến huy động vốn

Lãi suất huy động vốn có sự biến động lớn do ảnh hưởng của chính sách tiền tệ và tình hình kinh tế. Điều này khiến Sacombank Thăng Long phải điều chỉnh chiến lược huy động vốn để duy trì tính cạnh tranh.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Sacombank Thăng Long

Để cải thiện hoạt động huy động vốn, Sacombank Thăng Long cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Việc phát triển sản phẩm mới, cải thiện dịch vụ khách hàng và tối ưu hóa chiến lược marketing sẽ giúp ngân hàng thu hút nhiều khách hàng hơn.

3.1. Đẩy mạnh phát triển sản phẩm huy động vốn

Sacombank Thăng Long cần nghiên cứu và phát triển các sản phẩm huy động vốn đa dạng hơn, phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng khách hàng. Việc này không chỉ giúp thu hút khách hàng mới mà còn giữ chân khách hàng cũ.

3.2. Cải thiện chất lượng dịch vụ khách hàng

Chất lượng dịch vụ khách hàng là yếu tố quyết định trong việc giữ chân khách hàng. Sacombank Thăng Long cần nâng cao kỹ năng phục vụ và tạo ra trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng khi đến giao dịch.

IV. Kết quả nghiên cứu về hoạt động huy động vốn tại Sacombank Thăng Long

Kết quả nghiên cứu cho thấy Sacombank Thăng Long đã có những bước tiến đáng kể trong hoạt động huy động vốn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục để nâng cao hiệu quả hơn nữa.

4.1. Đánh giá hiệu quả huy động vốn

Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn cho thấy Sacombank Thăng Long đã đạt được nhiều thành công trong việc thu hút vốn. Tuy nhiên, cần có những biện pháp cải thiện để duy trì và phát triển hơn nữa.

4.2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân

Mặc dù có nhiều thành công, nhưng Sacombank Thăng Long vẫn gặp phải một số hạn chế trong hoạt động huy động vốn. Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự cạnh tranh và biến động của thị trường tài chính.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho hoạt động huy động vốn tại Sacombank Thăng Long

Hoạt động huy động vốn tại Sacombank Thăng Long có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của ngân hàng. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc cải thiện chất lượng dịch vụ và phát triển sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

5.1. Định hướng phát triển trong tương lai

Sacombank Thăng Long cần xây dựng chiến lược phát triển dài hạn, tập trung vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển các sản phẩm huy động vốn mới, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

5.2. Khuyến nghị cho các nhà quản lý

Các nhà quản lý tại Sacombank Thăng Long cần thường xuyên theo dõi và đánh giá tình hình thị trường, từ đó đưa ra các quyết định kịp thời nhằm tối ưu hóa hoạt động huy động vốn.

25/07/2025
Luận văn hv chính sách và phát triển phân tích hoạt động huy động vốn tại ngân hàng tmcp sacombank chi nhánh thăng long

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Giới thiệu về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Khi đất nước đang dần dần phát triển một cách mạnh mẽ, nền kinh tế trở nên nhộn nhịp và nhiều áp lực cạnh tranh gia tăng hơn để nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của mặt bằng xã hội. Dưới những áp lực đó các ngân hàng cũng như các định chế tài chính khác đang mở rộng quy mô dịch vụ kinh doanh của mình vượt xa những hình thức truyền thống đơn giản “là trung gian tài chính có chức năng chuyển hóa vốn từ người có tiền nhàn dỗi gửi tiết kiệm sang cho người có nhu cầu vay và thực hiện thanh toán hàng hóa, dịch vụ”.

Hiện nay, các ngân hàng đang thâm nhập vào các chức năng hoạt động của các tổ chức tài chính khác như cung cấp dịch vụ bảo hiểm, thành lập các công ty trực thuộc như công ty chứng khoán, công ty cho thuê tài chính, công ty quản lý và khai thác nợ, … bằng các hình thức chuyên nghiệp hơn hiện đại hơn. Tuy nhiên, điều ngược lại là các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng đang từng bước thực hiện các dịch vụ kinh doanh ngân hàng. Điều này làm cho các định chế tài chính khác nhau trở nên tương đồng, khó nhận diện. Chính vì lẽ đó, việc đưa ra khái niệm để phân biệt ngân hàng với các định chế khác trở nên khó khăn hơn hết.

Trước hết có thể điểm qua một số định nghĩa về ngân hàng thường thấy như sau: Theo Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính, 1990 của Việt Nam “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010 của Việt Nam: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã”. “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: - Nhận tiền gửi; - Cấp tín dụng; - Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” Trong xu thế hội nhập thị trường quốc tế, hệ thống tài chính các nước từng bước thay đổi theo hướng mở rộng các dịch vụ kinh doanh ngân hàng cho các tổ chức phi ngân hàng, đồng thời cho phép các ngân hàng được trực tiếp cung cấp các dịch vụ bảo hiểm và được phép thành lập các công ty trực thuộc trên một số lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán.

Hiện nay các NHTM lớn đã trở thành tập đoàn tài chính, có hàng loạt công ty trực thuộc, làm cho việc định nghĩa ngân hàng không còn đơn giản như trước. Rose đã đưa ra một khái niệm mới về ngân hàng như sau: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Định nghĩa này tập trung về khía cạnh các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung câp, theo đó, Ngân hàng là một định chế tài chính kinh doanh tổng hợp, được coi như một “Tổng công ty bách hóa dịch vụ tài chính” (General financial – service providers). Nói tóm lại, khái niệm về ngân hàng hiện nay là chưa được thống nhất rõ ràng.

Tuy nhiên để mà nói dựa trên những phân tích ở các khái niệm nêu trên có thể đưa ra một khái niệm từ các điểm thống nhất chung như sau: “Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, cung cấp một danh mục dịch vụ tài chính tổng hợp, với ba loại hình chủ yếu là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và làm dịch vụ thanh toán”. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngân hàng thương mại (Commercial Bank) là một thuật ngữ dùng để chỉ tổ chức tài chính thực hiện các hoạt động liên quan đến giao dịch trực tiếp với các công ty, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, xí nghiệp và các đối tượng khách hàng cá nhân thông qua việc tiếp nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, qua đó dùng để cho vay, chiết khấu, cung cấp các dịch vụ hay các phương tiện thanh toán của ngân hàng cho các đồi tượng khách hàng nói trên. Ở trong nền kinh tế thì Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến. Sự có mặt của NHTM trong các hoạt động của nền kinh tế xã hội đã chứng minh rõ một điều rằng: “Ở đâu có hệ thống ngân hàng thương mại phát triển thì ở đó sẽ có sự phát triển mạnh về kinh tế xã hội”.

Vai trò của Ngân hàng thương mại Cùng với sự đổi mới, đi lên của nhiều ngành nghề khác, từ khi ra đời và phát triển NHTM đã đóng góp vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thế giới. Ở hầu hết tất cả các nước phát triển, đang phát triển trên thế giới, hệ thống NHTM đã không ngừng được nâng cao, đóng vai trò tập trung những khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để cung ứng vốn cho các nhà đầu tư cần vốn. Đó chính là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn của các NHTM. Bằng hoạt động của mình NHTM đã đóng góp một lượng vốn đáng kể và hàng loạt các dịch vụ Ngân hang khác cho nền kinh tế.

Nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức kinh tế muốn sản xuất, kinh doanh thì cần phải có vốn để đầu tư mua sắm tư liệu sản xuất, phương tiện để sản xuất kinh doanh… mà nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức kinh tế luôn luôn lớn hơn so với vốn tự có do vậy cần phải tìm đến những nguồn vốn từ bên ngoài. Mặt khác bên ngoài lại có một lượng vốn nhàn rỗi rất lớn do sự tiết kiệm, quá trình tích lũy của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác. Nên NHTM sẽ như một trung gian đứng ra để huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó và sử dụng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguồn vốn huy động được cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng. NHTM trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế.

Nhờ có hoạt động ngân hàng và đặc biệt là hoạt động tín dụng các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cầu nối doanh nghiệp với thị trường Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thỏa mãn nhu cầu thị trường về mọi phương diện không chỉ là giá cả, khối lượng, chất lượng mà còn thỏa mãn trên phương diện thời gian, cách thức và địa điểm. Để một doanh nghiệp có thể đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường thì doanh nghiệp đó không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ cấu kinh tế, chế độ hạch toán kinh tế mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất, tìm tòi và sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp, … Những hoạt động này đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng vốn đầu tư lớn, nhiều khi vượt ngưỡng khả năng tài chính của họ. Do đó nhằm giải quyết tốt hơn khó khăn này các doanh nghiệp đến ngân hàng để xin vay lượng vốn nhất định, từ đó thỏa mãn nhu cầu cho kế hoạch đầu tư của mình.

Thông qua hoạt động cấp tín dụng cho các doanh nghiệp ngân hang trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng về mọi mặt của quả trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và từ đó phần nào tạo uy tín, chỗ đứng vững chắc cho doanh nghiệp trong cạnh tranh trên thương trường. Là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hệ thống NHTM hoạt động có hiệu quả sẽ thực sự là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông.

Thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế NHTM đã thực hiện dẫn dắt các nguồn tiền, tập hợp và phân phối vốn trên thị trường, điều khiển chúng một cách hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô. Cùng với các cơ quan khác, Ngân hàng luôn được sử dụng như một công cụ quan trọng để nhà nước điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế. Khi nhà nước muốn phát triển một ngành hay một vùng kinh tế nào đó thì cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì các NHTM luôn được sử dụng bằng cách NHNN yêu cầu các NHTM thực hiện chính sách ưu đãi trong đầu tư, sử dụng vốn như: giảm lãi suất, kéo dài thời hạn vay, giảm điều kiện vay vốn hoặc qua hệ thống NHTM Nhà nước cấp vốn ưu đãi cho các lĩnh vực nhất định. Khi nền kinh tế tăng trưởng quá mức nhà nước thông qua NHTW thực hiện chính sách tiền tệ như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm thiểu khả năng tạo tiền từ đó giảm khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế để nền kinh tế phát triển ổn định vững chắc.

Việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hệ thống NHTM thường đạt hiệu quả trong thời gian ngắn nên thường được nhà nước sử dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ