CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY MUA BẤT ĐỘNG SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Tại Việt Nam, theo Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của chính phủ về tổ chức và hoạt động NHTM: Định nghĩa Ngân hàng thương mại: là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.
Khái niệm NHTM trong Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc Hội thông qua vào ngày 16/06/2010 định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Luật này còn định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Ngân hàng thương mại là ngân hàng thực hiện kinh doanh lĩnh vực tiền tệ vì mục đích lợi nhuận. Ngân hàng thương mại hoạt đông bằng việc nhận tiền gửi của khách hàng sau đó cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhầm mục đích thoả mãn tối đa các nhu cầu của khách hàng. Các chức năng chủ yếu của ngân hàng thương mại Trung gian tín dụng: Được xem là nghiệp vụ kinh doanh quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại. Khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng, NHTM đóng vai trò là trung gian đứng giữa khách hàng thừa vốn và khách hàng có nhu cầu về vốn. Vì NHTM đóng vai trò là trung gian nên lúc này NHTM thực hiện nhận tiền gửi của khách hàng thừa vốn và đem cho khách hàng cần vốn vay.
Lúc này 4 NHTM vừa có vay trò nhận tiền gửi và cho vay, ngân hàng sẽ hưởng lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận tiền gửi và lãi suất cho vay. Đồng thời cũng giúp cho nền kinh tế được diều hoà ổn định. Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng và mang lại lợi nhuận lớn nhất tại các ngân hàng thương mại. Trung gian thanh toán: NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, ở chức nay này ngân hàng thương mại thực hiện các yêu cầu thanh toán của khách.
Hoạt động thanh toán của khách hàng là việc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập tiền thu từ bán hàng các khoản khác theo lệnh vào tài khoản tiền gửi của khách hàng. Các NHTM hiện đang cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán hiện đại và tiện lợi như: Uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, Séc, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng. Nhờ chức năng trung gian thanh toán của NHTM khách hàng không cần phải dự trữ nhiều tiền mặt, dễ dàng thanh toán dù ở gần hay xa. Từ đó khách hàng tiết kiệm được nhiều chi phí, thời gian và đảm bảo an toàn.
Chức năng tạo tiền: Chức năng này được hình thành thông qua hai chức năng thanh toán và chức năng tín dụng. Ở chức năng này ngân hàng thương mại sử dụng vốn huy động từ khách hàng để cho vay và kết hợp thanh toán không dùng tiền mặt từ đó mở rộng tiền gửi không kỳ hạn gấp nhiều lần. Chức năng tạo tiền phản ánh rõ bản chất của ngân hàng thương với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. NHTM với chức năng này làm tăng các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của khách hàng.
NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương. Vai trò của ngân hàng thương mại Thứ nhất, ngân hàng thương mại có vai trò là nơi cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế: để phát triển nền kinh tế thì các đơn vị hoạt động kinh doanh cần phải có một lượng nguồn vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác. Vậy lúc này ta cần ngân hàng thương mại để đứng ra tập trung một lượng tiền nhàn rỗi từ khách hàng để cung ứng cho nơi cần nguồn vốn. Ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ huy động vốn sau đó thông qua nghiệp vụ tín dụng để cho đơn vị kinh tế cần nguồn vốn phục vụ cho hoạt động 5 và quá trình sản xuất kịp thời.
Nhờ các hoạt động của huy động vốn và tín dụng thì ngân hàng thương mại đã giúp cho các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, cải thiện máy móc hiện đại, công nghệ hiện đại để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm trong hoạt động kinh doanh. Thứ hai, ngân hàng thương mại đóng vai trò là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương: Thường hệ thống ngân hàng được chia theo hai cấp bậc là ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại. Ngân hàng nhà nước đóng vai trò dẫn dắt các ngân hàng thương mại, ngân hàng thương mại chịu tác động trực tiếp từ các ngân hàng nhà nước. Ngân hàng nhà nước sẽ đưa ra các chỉ đạo về lãi suất tỷ giá nhằm ổn định thị trường tiền tệ và an toàn cho hệ thống tín dụng.
Từ đó ngân hàng thương mại làm cầu nối giữa ngân hàng nhà nước trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ. Thứ ba, ngân hàng thương mại đóng vai trò tạo điều kiện cho việc thúc đẩy nền kinh tế tài chính: tuy là hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại chùa mang tính cạnh tranh nhưng cũng mang tính hỗ trợ đến các hoạt động kinh doanh khác trong lĩnh vực tài chính. Việc hỗ trợ ở đây có nghĩa là một khi ngân hàng thương mại phát triển dẫn đến có nhiều dịch vụ hỗ trợ khác trong hoạt động kinh doanh, Các đơn vị kinh doanh khác cũng từ đó phát triển theo và ngược lại. Thứ tư, Ngân hàng thương mại còn đóng vai trò là cầu nối phát triển kinh tế đối ngoại giữa quốc gia và quốc tế: Nền kinh tế quốc gia nhận thức được rằng tầm quan trọng của việc kinh doanh quốc tế và sự hội nhập kinh tế giữa nước nhà với thế giới đem lại những lợi ích to lớn và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa quốc gia và quốc tế trong các lĩnh vực kinh doanh như là nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Từ đó giúp cho việc thanh toán, trao đổi mua bán giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp quốc tế được diễn ra một cách nhanh chóng, Thuận lợi, an toàn và hiệu quả. Khái niệm về nghiệp vụ tín dụng ngân hàng 6 1. Khái niệm về nghiệp vụ tín dụng ngân hàng Theo quan điểm của Karl Marx: “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất định sẽ thu hồi lại một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tại vì tính dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”. Như vậy, tín dụng ngân hàng được hiểu là mối quan hệ tín dụng giăux ngân hàng, các tổ chức tài chính với khách hàng các hay hay khách hàng doanh nghiệp. Trong đó, NHTM hay tổ chức tín dụng sẽ chuyển giao tài sản cho bên khách hàng vay để sử dụng trong thời gian nhất định, lãi nhất định được thoả thuận trước, khi đến hạn bên vay phải có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả gốc lẫn lãi cho NHTM hoặc TCTD cho vay. Phân loại tín dụng ngân hàng a.
Căn cứ vào đối tượng khách hàng của ngân hàng: Tín dụng dành cho khách hàng cá nhân: Loại hình này phục vụ cho dối tượng khách hàng cá nhân có nhu cầu vay phục vụ đời sống. Nhu cầu vay phục vụ đời sống thường là vay mua nhà, mua xe ô tô, du học, kinh doanh, phục vụ đời sống cá nhân. Tín dụng dành cho khách hàng doanh nghiệp: Loại hình này phục vụ cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu vay đáp ứng vốn trong sản xuất kinh doanh như là cho vay thanh toán công nợ (trừ trường hợp vay trả nợ ngân hàng khác), tiền lương nhân công, vay bổ sung vốn lưu động và mua sắm tài sản. Căn cứ vào thời hạn cho vay Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn dưới 1 năm (12 tháng).
Mục đích sử dụng khoản vay để đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của đối tượng khách hàng cá nhân hoặc sử dụng để bù đắp vốn lưu động bị thiếu hụt của doanh nghiệp. Tín dụng trung hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn vay từ 1năm đến 5 7 năm. Thường loại hình tín dung trung hạn được sử dụng với mục đích dầu tư mua tài sản cố định hoặc cải tiến và đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Không những thể khoản vay trung hạn này còn bổ sung nguồn vốn để hình thành nguồn vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa mới hình thành.
Tín dụng dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn vay trên 5 năm và thời hạn tối đa len đến 20-30 năm, có một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm. Thường thì mục đích sử dụng tín dụng dài hạn nhầm cung cấp đáo ứng các nhu cầu dài hạn của khách hàng cá nhân như xay nhà ở, nhu cầu khách hàng doanh nghiệp như mua thiết bị, phương tiện vận tải quy mô lớn và xay dựng xí nghiệp mới. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: Tín dụng không đảm bảo: Là loại hình cho vay mà ngân hàng không yêu cầu khách hàng vay thế chấp tài sản đảm bảo, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba, mà ngân hàng cho vay chỉ dựa vào mức dộ uy tín của khách hàng để đưa ra quyết định cho vay.