CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG EXIMBANK – CN BÌNH DƯƠNG 1. Khái niện về thương mại cổ phần Theo thông tư số 40/2011/TT – NHNN, ngân hàng TMCP được hiểu như sau: Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh như là: Cho vay, bão lãnh, chiết khấu, bao thanh toán. Tuân thủ theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi nhuận. Khái niệm về cho vay Theo Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, cho vay được quy định nghĩa là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Quá trình hình thành và một số đặc điểm của cho vay khách hàng cá nhân 1. Những đặc điểm của cho vay Những đặc điểm về cho vay bao gồm: Thứ nhất về đối tượng cho vay: là các hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu vốn để đầu tư kinh doanh hoặc tiêu dùng. “Mua nhà, mua xe…” Thứ hai về thời hạn cho vay: tùy thuộc vào từng mục đích vay vốn mà ngân hàng sẽ đưa ra các hình thức vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn. +Cho vay ngắn hạn: Khoản vay có thời hạn cho vay đối đa 1 năm.
4 +Cho vay trung hạn: Khoản vay có thời hạn cho vay trên 1 năm và tối đa 5 năm. +Cho vay dài hạn: Là khoản vay có thời hạn trên 5 năm Thứ ba về chi phí cho vay: sản phẩm, dịch vụ, thẩm định là các khoản chi phí mà ngân hàng sẽ phải bỏ ra khi cho vay của khách hàng cá nhân vay. Thư tư về rủi ro của các vay: nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân thường rất cao giúp ngân hàng phân tán rủi ro, nhưng không có nghĩa là các khoản vay này không chứa các rủi ro. Cuối cùng về lãi suất vay đối với khách hàng cá nhân: Do chi phí ngân hàng bỏ ra đối với khách hàng cá nhân thường cao hơn, chính vì thế kéo theo việc lãi suất cũng tăng theo.
Phân loại về cho vay khách hàng cá nhân Đối với cho vay cá nhân việc phân loại sẽ giúp cho khách hàng chọn ra những tiêu chí các sản phẩm phù hợp với nhu cầu và mục đích vay vốn tránh được những bất cập trong quá trình vay vốn từ đó mang lại hiệu quả khả năng trả nợ cao hơn và việc phân loại các sản phẩm theo từng mục tiêu cụ thể như sau: Phân loại theo mục đích sử dụng tiền vay Cho vay lãi suất: Là loại cho vay mà khách hàng có thể sử dụng vốn với mục đích để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa. Cho vay sản xuất gồm cho vay nông nghiệp, công nghiệp, lâm – ngư nghiệp. Cho vay lưu thông: Là loại cho vay mà khách hàng có thể sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Cho vay lưu thông gồm có cho vay thương mại (mua – bán kinh doanh hàng hóa nội địa, kinh doanh xuất – nhập khẩu); cho vay kinh doanh dịch vụ.
5 Cho vay tiêu dùng: Là loại cho vay mà khách hàng có thể sử dụng vốn vào mục đích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân. Phân loại theo tài sản đảm bảo Cho vay có tài sản đảm bảo: Đây là loại hình cho vay mà khách hàng phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bão lãnh của bên thứ ba là đảm bảo. Cho vay không có tài sản đảm bảo: Loại cho vay này thường được cấp cho các khách hàng có uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường xuyến có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay. Phân loại theo tính chất hoàn trả Cho vay hoàn trả trực tiếp: Là loại cho vay của ngân hàng trong đó người đi vay chính là người phải trả nợ trực tiếp cho ngân hàng.
Cho vay hoàn trả gián tiếp: Là loại cho vay trong đó người đi vay không phải là người trả nợ, loại cho vay này thường được thực hiện bằng cách chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá trị còn thời hạn thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ bao thanh toán. Phân loại theo phương thức hoàn trả Cho vay hoàn trả góp: Vốn vay được trả làm nhiều kỳ, được góp lại khi nào đủ nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng được kết thúc. Cho vay hoàn trả một lần: Vốn vay là lãi được trả một lần khi đến hạn thanh toán. Cho vay hoàn trả theo yêu cầu: Vốn vay được trả theo yêu cầu của bên cho vay hoặc bên đi vay.
Phân loại theo phương thức cho vay 6 Cho vay theo món: Là phương pháp cho vay mà mổi lần vay khách hàng và ngân hàng đều phải làm thủ tục tín dụng cần thiết. Cho vay theo món cũng gọi là cho vay từng lần vì khi có nhu cầu vốn khách hàng làm hồ sơ xin vay một khoản tiền cho một mục đích sử dụng vốn cụ thể. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là loại cho vay mà cá nhân vay chỉ cần làm đơn xin vay lần đầu, sau đó trên cơ sở hợp đồng, cá nhân chỉ cần làm đơn xin vay lần đầu, sau đó trên cơ sở hợp đồng, cá nhân lập kế hoạch vay và trả nợ gửi đến ngân hàng. Áp dụng cho những cá nhân có nhu cầu bổ sung vốn thường xuyên, đếu đặn, vòng quay vốn nhanh.
Ngân hàng xác định hạn mức tín dụng, đồng thời mở cho cá nhân một tài khoản cho vay để theo dõi việc vay và trả nợ. Các phương thức cho vay khác nhau như: Cho vay ứng trước, cho vay thấu chi, cho vay đồng tài trợ và các loại cho vay khác. Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân đối với nền kinh tế Hoạt động cho vay KHCN có vai trò không chỉ đối với quỹ tín dụng, khách hàng cá nhân mà còn có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. - Đối với nền kinh tế xã hội: Góp phần tạo sự năng động cho các thành phần kinh tế.
Cho vay KHCN là noi hỗ trợ vốn cho người dân giúp cho họ có được cuộc sống ổn định, trang trải các khoản chi phí sinh hoạt, học tập… phát sinh trong cuộc sống để thỏa mãn từ nhu cầu cần thiết cho đến nhu cầu nhằm nâng cao chất lượng sống ngày một tốt hơn. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng thuộc các thành phần kinh tế đẩy mạnh sản xuất, do đó tạo ra nhiều công ăn việc làm giúp người dân an cư lạc nghiệp ổn định kinh tế tạo ra những khách biệt tích cực giúp tăng khả năng cạnh tranh trước các đối thủ trong và ngoài nước trong thời kỳ hội nhập. Góp phần tạo sự ổn định về mặt xã hội. Là một bộ phận tín dụng nói chung cho vay KHCN cũng có vai trò tích cực đối với xã hội, góp phần lưu thông các nguồn vốn một cách trôi 7 chảy và hiệu quả từ những nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao.
Cho vay KHCN giúp kích cầu trong nền kinh tế nâng cao hiệu quả vốn thúc đẩy sản xuất trong nước, do đó thu hút nhiều lao động tham gia xây dựng sản xuất tạo công ăn việc làm hướng dẫn các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo tăng thu nhập giảm tệ nạn, thực hiện các chính sách an ninh xã hội đưa mọi người tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. - Đối với bộ phận tín dụng: Góp phần phân tán rủi ro cho bộ phận tín dụng. Nếu hoạt động cho vay chỉ tập trung cho vay các khách hàng cá nhân có nhu cầu vay vốn lớn điển hình đại dịch Covid-19 đã làm cho cuộc sống của khách hàng này gặp khó khăn gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ của khách hàng. Do vậy nguyên tắc “Phân tán rủi ro” các bộ phận tín dụng phát triển cho vay “KHCN” được xem là một sự phân tán rủi ro vì số lượng khách hàng đông, số tiền vay ít, thi khi có một khách hàng hoặc một số khách hàng gặp rủi ro dẫn đến tháng không có khả năng trả nợ thi gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của bộ phận tín dụng.
Bên cạnh đó bộ phận tín dụng con cung cấp một nguồn vốn tự tiết kiệm cá nhân đáng kể và ổn định cho quỹ. Vì vậy tạo dựng mối quan hện với nhóm khách hàng này rất có ý nghĩa đối với các hoạt động kinh tế. Góp phần nâng cao thương hiệu cho bộ phận tín dụng. Do đối tượng khách hàng rộng nên việc phát triển cho vay KHCN sẽ giúp hình ảnh thương hiệu của quỹ được phổ biến rộng khắp nơi ở Việt Nam.
Thông qua việc cho vay KHCN ngoài việc cho vay khách hàng còn giúp thuận lợi trong bàn chéo sản phẩm dịch vụ của quỹ như: tiền gửi tiết kiệm, giao dịch thanh toán, chuyển lương qua tài khoản bán bảo hiểm….Khả năng cung cấp gói sản phẩm dịch vụ đa dạng tài chính có thể đồng bộ thỏa mãn chọn gói sản phẩm tối đa hóa nhu cầu vay của khách hàng sẽ tạo nét đặc biệt cho trong cạnh tranh với đối thủ do đó góp phần nâng cao thương hiệu của tổ chức tín dụng. - Đối với khách hàng cá nhân: Cuộc sống con người luôn tồn tại những cầu vật chất và tinh thần. Những nhu cầu đó ngày càng đa dạng và cao hơn, ngày xưa 8 chỉ “Ăn no, mặc ấm” còn xã hội hiện đại ngày nay với phương châm “Ăn ngon, mặc đẹp” bắt đầu từ những hàng hóa thiết yếu rồi đến những hàng hóa cao cấp cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Nhưng việc thỏa mãn nhu cầu đó lại phụ thuộc vào khả năng thanh toán ở hiện tại ở một chừng mực nào đó, việc xây dựng vốn giúp cho các khách hàng linh hoạt trong việc giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
Thay vì phải ích lũy đủ vốn ở hiện tại, để thực hiện kế hoạch của bản thân người tiêu dùng sẽ khéo léo chọn ra những sản phẩm phối hợp thỏa mãn nhu cầu ở hiện đại với khả năng thanh toán ở hiện tại và tương lai. Khách hàng sẽ tiêu dùng trước bằng cách lựa chọn phương án vay vốn tại bộ phận tín dụng rồi tích lũy và hoàn trả sau cho ngân hàng.