MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành Thủy sản có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Trong những năm qua, sản xuất của ngành đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể,là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, luôn trong top đầu các mặt hàng xuất khẩu của đất nƣớc và giữ vững vị trí top 10 nƣớc xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Chỉ tính riêng năm 2012 giá trị sản xuất của ngành đã đạt 5.735 nghìn tấn; tăng 5,2% so với năm 2011; đóng góp trên 4,2% vào giá trị tổng sản phẩm cả nƣớc.
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012 đạt gần 6,2 tỷ USD duy trì mức tăng bình quân 14% (so với năm 2000). Số lƣợng doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản và hộ nuôi trồng thủy sản tăng vọt lên gấp đôi sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thị trƣờng tiêu thụ đƣợc mở rộng… Tuy nhiên hiện nay cùng với bối cảnh khó khăn chung của hầu hết các doanh nghiệp trong nền kinh tế, các doanh nghiệp ngành thủy sản đang phải đối mặt với rủi ro phá sản rất cao. Nguyên nhân xuất phát từ việc ngành đã phát triển quá “nóng” theo mô hình tăng trƣởng bề rộng: đầu tƣ máy móc, mở rộng nhà xƣởng, tăng cƣờng hệ thống nuôi trồng và các đại lý… (gia tăng hiệu quả kinh doanh) nhanh chóng đem lại nhiều kết quả ấn tƣợng về lƣợng, song lâu dài mô hình đã tích lũy dần theo chiều sâu một số yếu tố về chất gây hệ quả trái chiều, bộc lộ rõ khi điều kiện thị trƣờng tài chính thay đổi, gây ra những đổ vỡ “cay đắng”. Tính đến cuối năm 2012 có trên 400 doanh nghiệp trong tổng số 800 doanh nghiệp ngành bị “đổ nợ”, có 30% doanh nghiệp phá sản, 40% chết lâm sàng, 20% cầm cự, chỉ còn 10% số doanh nghiệp hoạt động có lợi nhuận… Có một thực tế là không chỉ các công ty ngành thủy sản mà hầu hết các doanh nghiệp phi tài chính ở Việt Nam nói chung còn mang nặng cách quản Luan van 2 lý quá xem trọng việc đầu tƣ và gia tăng gia tăng hiệu quả hoạt động bằng cách gia tăng hiệu quả kinh doanh nhờ sử dụng đón bẩy hoạt động, mà chƣa thực sự chú ý đến vai trò của hiệu quả tài chính và đòn bẩy tài chính, trong khi hiệu quả tài chính là một bộ phận quan trọng của hiệu quả hoạt động.
Với những lý do đó, tôi quyết định lựa chọn đề tài, nhằm xem xét phân tích một cách sâu sắc hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành thủy sản, tìm ra các nhân tố ảnh hƣởng tới hiệu quả tài chính, đƣa ra giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả tài chính, đảm bảo các doanh nghiệp Thủy sản hoạt động thực sự có hiệu quả trên nền tảng đóng góp của hiệu quả tài chính. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hoá lý luận về phân tích hiệu quả tài chính của công ty. - Trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu và đánh giá thực tế về hiệu quả tài chính của các công ty ngành thuỷ sản đang niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả tài chính cho các công ty ngành Thủy sản Việt Nam trong thời gian tới. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: + Những vấn đề lý luận và thực tiễn hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp ngành thủy sản niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
+ Các nhân tố có tác động đến hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp ngành thủy sản niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: 19 công ty ngành thủy sản đang niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. + Về thời gian: giai đoạn 2009- 2013. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu luận văn chủ yếu sử dụng ba phƣơng pháp sau: phƣơng pháp thống kê mô tả, phƣơng pháp phân tích tổng hợp và phƣơng Luan van 3 pháp phân tích hồi quy.
Các phƣơng pháp đƣợc sử dụng cụ thể nhƣ sau: - Phƣơng pháp thống kê: đƣợc sử dụng để mô tả các thông tin thu thập đƣợc từ các nguồn khác nhau, từ đó tiến hành phân tích diễn giải. - Phƣơng pháp phân tích tổng hợp: đƣợc sử dụng để phân tích chi tiết và tổng hợp các chỉ tiêu, nhằm làm rõ đối tƣợng nghiên cứu của luận văn. - Phƣơng pháp phân tích hồi quy: đƣợc sử dụng để tìm ra mối liên hệ giữa các nhân tố đƣợc lựa chọn để nghiên cứu với hiệu quả tài chính của ngành. Bố cục của đề tài Luận văn gồm 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả tài chính công ty Chƣơng 2: Phân tích hiệu quả tài chính của các công ty ngành Thủy sản niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của các công ty ngành Thủy sản niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Ngay từ những năm 1986, sau khi Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách Đổi Mới (cải cách kinh tế), hƣớng tới một nền kinh tế thị trƣờng, thì lý luận về vấn đề hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nói chung đã đƣợc rất nhiều học giả kinh tế nghiên cứu. Nhƣng lý luận về hiệu quả tài chính thì chỉ thực sự đƣợc quan tâm, tìm hiểu khi thị trƣờng tài chính hình thành, mà cụ thể là khi thị trƣờng chứng khoán Việt Nam phát triển. Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung hiệu quả tài chính công ty có giá trị.
Trong đó, có một số luận văn đáng chú ý sau: - Luận văn Thạc sĩ (2010): “Phân tích hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” của tác giả Phạm Thị Kim Liên tại trƣờng Đại học kinh tế Đà Nẵng. Luận văn cung cấp cơ sở lý luận và Luan van 4 thực trạng phân tích hiệu quả tài chính của 6 doanh nghiệp dệt may lớn trên địa bàn Đà Nẵng. Trên quan điểm hiệu quả tài chính là hiệu quả của cả ba quá trình huy động, quản lý và sử dụng vốn trong quá trình kinh doanh; không chỉ mỗi hiệu quả của huy động vốn, tác giả đã phân tích hiệu quả tài chính thông qua chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Ngoài ra, đối với các công ty cổ phần tác giả đề xuất thêm hai chỉ tiêu: tỷ suất sinh lời của vốn cổ phần (ROCE) và lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS).
Tuy nhiên, mục đích của luận văn hƣớng tới là khảo sát, đánh giá công tác phân tích hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp dệt may Thành phố Đà Nẵng, nên đánh giá hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp. Thứ hai, đối tƣợng khảo sát của luận văn tƣơng đối hẹp, chỉ gồm 6 công ty dệt may Thành phố Đà Nẵng, nên chƣa thể mang tính đại diện. - Luận văn Thạc sĩ (2013): “Phân tích hiệu quả hoạt động của các công ty ngành dƣợc trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” của tác giả Võ Đức Nghiêm tại trƣờng Đại học kinh tế Đà Nẵng. Tác giả sử dụng hai chỉ tiêu là: Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ số ƣa thích của chủ sở hữu, các nhà đầu tƣ vào doanh nghiệp và Khả năng thanh toán lãi vay là chỉ số ƣa thích của chủ sở hữu, ngân hàng cho vay vốn để đo lƣờng hiệu quả tài chính.
Ngoài ra, thông qua phƣơng trình phân tích Dopout, tác giả cũng đã chỉ ra 3 nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính là: Hiệu quả kinh doanh, Cấu trúc tài chính và Khả năng tự chủ tài chính. Mục đích của luận văn là đánh giá về thực trạng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành dƣợc trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, vì thế Tác giả chƣa đi sâu phân tích hiệu quả tài chính mà chỉ xem xét nó trên góc độ là “một bộ phận” làm rõ thêm cho hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, bên cạnh hiệu quả kinh doanh; cũng nhƣ chƣa đƣa ra đƣợc mô hình tổng thể về các nhân tố ảnh hƣởng hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả tài chính nói riêng của các công ty ngành dƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Luan van 5 - Luận văn Thạc sĩ (2012): “Các giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn Gas công nghiệp Bình Định” của tác giả Phan Thị Kim Dung tại trƣờng Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh. Ngoài các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh nhƣ: doanh thu, lợi nhuận trƣớc thuế…tác giả sử dụng chỉ tiêu ROE làm trọng tâm để đánh giá hiệu quả tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn Gas công nghiệp Bình Định.
Tác giả đã phân tích ROE theo phƣơng trình Dopout, kết hợp sử dụng phƣơng pháp loại trừ, cụ thể là phƣơng pháp số chênh lệch để xem xét yếu tố nào thực sự tác động đến kết quả cuối cùng là ROE. Tuy nhiên, luận văn chỉ mới dừng lại ở việc phân tích một số chỉ tiêu nhƣ: phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, phân tích một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cá biệt và một số chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời, chứ chƣa cho thấy cụ thể về hiệu quả tài chính, cũng nhƣ chƣa xây dựng đƣợc mô hình các nhân tố tác động tác động tới hiệu quả tài chính. Ngoài ra, luận văn chỉ nghiên cứu trên một đối tƣợng cụ thể là Công ty trách nhiệm hữu hạn Gas công nghiệp Bình Định nên giá trị áp dụng cho các doanh nghiệp khác chƣa cao. - Luận văn thạc sĩ (2011): “Tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp trên thị trƣờng chứng khoán TPHCM - Trƣờng hợp ngành công nghiệp chế biến thực phẩm” của tác giả Nguyễn Thị Trần Nhân Ái tại trƣờng Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh.
Tác giả cho rằng hiệu quả tài chính của doanh nghiệp có thể đƣợc đo lƣờng thông qua nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời nhƣ: tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS), tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) song phổ biến nhất là tỷ suất ROE.