CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.Vốn kinh doanh 1. Khái niệm vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. Vốn còn được coi là một trong bốn yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp: vốn, nhân lực, công nghệ và tài nguyên. Vì vậy vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp của trường Đại học Thương Mại - PGS.TS Đinh Văn Sơn – Đại học Thương Mại, Nxb Thống kê, 2007 : Vốn kinh doanh của doanh ngiệp là toàn bộ tiền lương cần thiết để bắt đầu và duy trì các hoạt động kinh doanh của DN. (Nói cách khác, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là loại quỹ tiền tệ đặc biệt phục vụ cho các hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận trên thì vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra các hoạt động kinh doanh. Nói cách khác, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền đầu tư ứng trước cho kinh doanh của doanh nghiệp đó.
Với yêu cầu mục tiêu về hiệu quả hoạt động, số vốn ứng trước ban đầu cho kinh doanh sẽ phải thường xuyên vận động và chuyển hoá hình thái biểu hiện từ tiền tệ sang các tài sản khác và ngược lại. Do đó, nếu xét tại một thời điểm nhất định thì vốn kinh doanh không chỉ là vốn bằng tiền mà còn là các hình thái tài sản khác. Cho nên, có thể hiểu “vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời ”.2 Đặc điểm của vốn kinh doanh. Vốn kinh doanh phải được biểu hiện bằng một lượng giá trị tài sản cụ thể và được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vốn phải được vận động sinh lời để đạt được mục tiêu kinh doanh. Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý chặt chẽ thì vệc sử dụng vốn mới tiết kiệm và hiệu quả. Vốn phải được quan niệm là một loại hàng hóa đặc biệt : Khác với hàng hóa thông thường, hàng hóa vốn khi bị bán đi thì người bán không bị mất quyền sở hữu mà SVTH: Nguyễn Thị Mai 7 Lớp: K48D6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Tô Thị Vân Anh chỉ mất quyền sử dụng.
Người mua được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định và họ phải trả cho người chủ sở hữu vốn một khoản tiền đó là lãi suất. Việc mua bán vốn diễn ra trên thị trường tài chính, do đó lãi suất cũng phải tuân theo quan hệ cung cầu của thị trường. Vốn không chỉ được thể hiện dưới dạng hữu hình mà còn biểu hiện ở dạng vô hình. Vì thế các loại tài sản này phải cần được lượng hóa bằng tiền quy về giá trị.3 Phân loại vốn kinh doanh Phân loại vốn theo nguồn hình thành.
Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là số vốn góp do chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp. Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải trả lãi suất. Tuy nhiên, lợi nhuận thu được do kinh doanh có lãi của doanh nghiệp sẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ phần vốn góp cho mình. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu được hình thành theo các cách thức khác nhau.
Thông thường nguồn vốn này bao gồm vốn góp và lãi chưa phân phối. Nợ phải trả Nợ phải trả là nguồn vốn kinh doanh ngoài vốn pháp định được hình thành từ nguồn đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vị, cá nhân và sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho người cho vay cả lãi và gốc. Phần vốn này được doanh nghiệp sử dụng với những điều kiện nhất định (như thời gian sử dụng, lãi suất, thế chấp…) nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Nợ phải trả bao gồm: + Nợ phải trả ngắn hạn: Phải trả người bán, phải trả người lao động, thuế và các khoản phải nộp nhà nước, vay ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn trả, nhận ký cược , ký quỹ ngắn hạn mà đơn vị có nghĩa vụ phải trả trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong vòng một năm.
Các khoản nợ ngắn hạn được trang trải bằng tài sản ngắn hạn hoặc nợ ngắn hạn phát sinh. + Nợ phải trả dài hạn: Phải trả người bán, vay dài hạn, nợ dài hạn , dự phòng phải trả dài hạn, thuế thu nhập hoãn lại phải trả, nhận ký cược, ký quỹ, có thời hạn thanh toán trên một năm. SVTH: Nguyễn Thị Mai 8 Lớp: K48D6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Tô Thị Vân Anh Phân loại dựa trên tốc độ chu chuyển vốn.
Vốn cố định: Là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của tài sản cố định, bao gồm tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định thuê tài chính và tài sản cố định vô hình. TSCĐ dùng trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị thì chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều chu kỳ kinh doanh. Vốn cố định bao gồm: + Các khoản phải thu dài hạn: Phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu khác… có thời hạn thanh toán trên một năm. + Tài sản cố định; TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính, bất động sản đầu tư.
+ Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: Đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết Vốn lưu động : Là biểu hiện bằng tiền của tài sản ngắn hạn sử dụng trong kinh doanh. Vốn lưu động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hoá. Nó là bộ phận của vốn sản xuất, bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu phụ, tiền lương… Vốn lưu động có đặc điểm là thời hạn luân chuyển thường là trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Sự luân chuyển này phụ thuộc vào quá trình khai thác, sử dụng và bảo quản từng bộ phận tài sản ngắn hạn cũng như các chính sách tài chính có liên quan của doanh nghiệp.
Vốn lưu động bao gồm: + Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, công ty tài chính, kho bac, tiền đang chuyển. + Các khoản đầu tư ngắn hạn: đầu tư chứng khoán ngắn hạn, đầu tư ngắn hạn khác. + Các khoản phải thu ngắn hạn: phải thu ngắn hạn khác, tạm ứng, phải thu nội bộ. + Các khoản dự trữ và tài sản ngắn hạn khác.
Ý nghĩa của việc phân loại theo tiêu thức này: giúp doanh nghiệp thấy được tỷ trọng, cơ cấu của từng loại vốn trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp mình từ đó có thể lựa chọn một cơ cấu vốn phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của SVTH: Nguyễn Thị Mai 9 Lớp: K48D6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Tô Thị Vân Anh doanh nghiệp. (Trang 17 giáo trình Tài chính doanh nghiệp thương mại – PGS.TS Đinh Văn Sơn - Đại Học Thương Mại, Nxb Thống kê 2007). Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn : Theo cách phân loại này thì nguồn vốn của DN bao gồm: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
Nguồn vốn thường xuyên: gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn. Đây là nguồn vốn mang tính ổn định và dài hạn mà DN có thể sử dụng để đầu tư mua sắm TSCĐ và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà DN có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn có tính chất tạm thời, phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, gồm: các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác. Việc phân loại theo tiêu thức này giúp cho người quản lý DN xem xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DN, hình thành các kế hoạch về tổ chức các nguồn vốn trên cơ sở xác định quy mô vốn cần thiết, lựa chọn nguồn vốn và qui mô thích hợp cho từng nguồn vốn nhằm tổ chức sử dụng hợp lý và có hiệu quả.
(Giáo trình tài chính doanh nghiệp thương mại – PGS.TS Đinh Văn Sơn - Đại Học Thương Mại, Nxb Thống kê, 2007 – trang 64 ) Phân loại theo phạm vi huy động và sử dụng vốn : Nguồn vốn trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ hoạt động bản thân của doanh nghiệp như: Tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận giữ lại, các khoản dự trữ, dự phòng, khoản thu từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ… Nguồn vốn ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh như: Vay ngân hàng, vay của các tổ chức kinh tế khác, vay của các nhân viên trong công ty, vay cá nhân… Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể có các nguồn vốn khác như: nguồn vốn FDI, ODA…thông qua việc thu hút các nguồn vốn này, các doanh nghiệp có thể tăng vốn đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. SVTH: Nguyễn Thị Mai 10 Lớp: K48D6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Tô Thị Vân Anh 1.Vai trò, ý nghĩa của vốn kinh doanh Vốn có vai trò và ý nghĩa to lớn không những đối với quá trình hình thành doanh nghiệp mà nó còn có vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trên các góc độ khác nhau vai trò của vốn cũng thể hiện khác nhau: - Về mặt pháp lý: nhằm đảm bảo đủ điều kiện cho một doanh nghiệp được phép thành lập và đi vào hoạt động, và vốn ban đầu cũng là nguồn vốn để đầu tư mua sắm trang thiết bị, nhà xưởng sản xuất, thuê nhân công và các điều kiện khác để tiến hành sản xuất.
Khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được tạo lập. Trong quá trình phát triển của doanh nghiệp, nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại của doanh nghiệp.