Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tống quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu trước có liên quan Không Tiến Dũng (2020) đã phân tích hiệu quả tài chính và sự sẵn lòng chuyển đổi sang mô hình lúa hữu cơ của nông hộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh hiệu quả tài chính của mô hình truyền thống và mô hình lúa hữu cơ ở hai khu vực thuộc Đồng bằng sông Cửu Long.
Số liệu nghiên cứu được thu thập từ 168 nông hộ trên địa bàn huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang và huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long có điều kiện sản xuất tương đồng. Các chỉ số tài chính, hàm lợi nhuận Cobb-Douglas và mô hình nhị phân Logit được sử dụng đề đánh giá và so sánh hiệu quả tài chính, tìm hiểu các yếu tô ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chuyên đổi sang mô hình hữu cơ của nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy hơn 40% các nông hộ ở mô hình truyền thống sẵn lòng chuyển đổi sang mô hình hữu cơ. Hàm lợi nhuận Cobb-Douglas được sử dụng dé ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận mô hình truyền thống bao gồm: giá chuân hóa của phân kali, thuốc và diện tích.
Ngoài ra, mô hình nhị phân Logit được dùng dé xác định biến tuổi làm tăng xác suất đồng ý chuyên đổi từ mô hình truyền thống sang mô hình hữu cơ trong khi biến diện tích và doanh thu của mô hình truyền thống làm giảm xác suất này. Nguyễn Văn Thành và cộng sự (2020) đã phân tích hiệu quả kinh tế canh tác lúa hữu cơ của nông hộ tại xã Phú Lương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên khảo sát 60 hộ canh tác lúa hữu cơ theo hợp đồng bằng bảng hỏi bán cấu trúc và 01 thảo luận nhóm tập trung. Số liệu thu thập được mã hoá và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.
Thống kê mô tả được sử dụng bao gồm số trung bình, tỷ lệ, tần suất và tỷ lệ phần trăm. Kiểm định phi tham số Mann-Whitney U được sử dụng để so sánh hiệu quả kinh tế canh tác lúa hữu cơ và thâm canh của nông hộ ở vùng nghiên cứu. Tuy nhiên phương pháp kiêm định Mann-Whitney U không kiểm soát được ảnh hưởng cùng lúc của các yếu tố như trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất, điện tích sản xuất và phương thức sản xuất,. đến hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ.
Do đó, nghiên cứu đã sử dụng thêm phương pháp hồi quy đa biến đề kiểm soát ảnh hưởng của các yếu tố khác đến hiệu quả canh tác lúa của nông hộ. Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh tế bao gồm tổng chị phí đầu tư, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận. Kết quả nghiên cứu cho thấy, điện tích lúa canh tác hữu cơ ở điểm nghiên cứu khoảng 0,5 ha/hộ và chiếm gần 50% tổng diện tích lúa của nông hộ. Năng suất lúa canh tác hữu cơ có xu hướng tăng qua các năm, tuy vậy vẫn thấp hơn năng suất lúa canh tác thâm canh 9,3 tạ/ha.
Tổng chi phí canh tac lúa hữu cơ ở điểm nghiên cứu cao hơn canh tác lúa thâm canh 3.000 đồng/ha/vụ. Chi phí phân bón và bảo vệ thực vật của canh tác lúa hữu cơ thấp hơn đáng kể so với lúa canh tác thâm canh; trong khi chi phí lao động cao hơn rất nhiều so với lúa canh tác thâm canh và chiếm khoảng 50% tổng chi phí canh tác lúa hữu cơ của nông hộ. Doanh thu canh tác lúa hữu cơ ở điểm nghiên cứu đạt 45.000 đồng/ha/vụ, cao hơn lúa canh tác thâm canh 5.000 đồng/ha/vụ; Tuy nhiên, lợi nhuận canh tác lúa hữu cơ ở điểm nghiên cứu chỉ cao hơn lúa canh tác thâm canh 2.000 đồng/ha/vụ. Tỷ suất lợi nhuận của canh tác lúa hữu cơ khá thấp (0,53); chỉ cao hơn canh tác lúa thâm canh 0,03.
Canwat và cộng sự (2021) đã so sánh hiệu quả sản xuất của hệ thống sản xuất cải xoăn nông hộ nhỏ hữu cơ và không hữu cơ ở Kenya. Nghiên cứu này dựa trên mẫu của 86 nhà sản xuất rau hữu cơ và 176 không hữu cơ được lấy từ các quận Kajiado, Kiambu, Machakos va Bungoma. Việc thu thập dit liệu diễn ra trong ba giai đoạn trong khoảng thời gian sáu tháng, từ tháng 5-thang 7 nam 2014, từ tháng 1-thang 2 năm 2015 và tháng 1-thang 2 năm 2016. Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận Ordinary Least Squares (OLS) và Maximum Likelihood (ML), cả hai mô hình OLS và ML đều cho thấy rằng việc tăng lao động và đầu vào thêm một phần trăm sẽ làm tăng sản lượng lần lượt là 0,168 phần trăm và 0,682 phan trăm.
Kết quả mô hình probit chỉ ra các yêu tố ảnh hưởng đến chuyên đổi hữu cơ phụ thuộc vao giới tính, độ tuổi của chủ hộ, quy mô trang trại và khoảng cách với đường chính, chuyên đôi hữu cơ ở nông dân nữ nhiều hơn nam, một nông dân nữ làm tăng xác suất chuyên đổi hữu cơ lên đến 0,13. Hiệu quả doanh thu và thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất hữu cơ thấp hơn so với các nhà sản xuất cải xoăn không hữu cơ. Kết quả cũng cho thấy hiệu quả và năng suất của hệ thống sản xuất cải xoăn nông hộ nhỏ hữu cơ bị hạn chế do thiếu nguyên liệu đầu vào (đặc biệt là phân) và cũng cho thấy rằng hệ thống sản xuất hữu cơ sử dụng nhiều lao động hơn so với hệ thống không hữu cơ. Brošová và Vanék (2013) đã đánh giá hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ ở một vùng được chọn của Cộng hòa Séc.
Nghiên cứu sử dụng báo cáo tài chính của 51 trang trại hữu co và 153 trang trai thông thường ở khu vực Nam Bohemian trong các năm 2008, 2009 và 2010. Các công cụ và phương pháp phân tích sau đây đã được áp dụng: khai thác dữ liệu sơ cấp và thu thập thông tin; phân tích các tài liệu liên quan nhằm lập bản đồ các phương pháp tiếp cận khoa học gần đây và đánh giá kết quả của các nghiên cứu trước đây trong ngành; phân tích đữ liệu kinh tế - về cơ sở của cả báo cáo tài chính của công ty và cơ sở dữ liệu có sẵn công khai; khảo sát trực tiếp và qua điện thoại nhằm xác định vị trí của doanh nghiệp và diện tích canh tác; so sánh các phương pháp tiếp cận và các kết quả nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực khoa học; so sánh dữ liệu và tỷ lệ được lựa chọn (trong canh tác hữu cơ và canh tác thông thường); sử dụng MS Word 2007 và các phép tính được thực hiện trong MS Excel 2007. Tác giả đã sử dụng tỷ lệ tài chính dé đánh giá tình hình kinh tế và tài chính của các doanh nghiệp nông nghiệp: tỷ suất sinh lời trên tài sản, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, khả năng thanh toán, khả năng mắc nợ, khả năng trả lãi và vòng quay tổng tài sản. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ của các trang trại hữu cơ chuyên nghiệp (trong cả ba năm được khảo sát) cao hơn nhiều so với nông nghiệp thông thường.
Tuy nhiên, kết quả này được điều chỉnh bằng cách bao gồm trợ cấp trong tông lợi suất. Đối với lợi nhuận trên mỗi ha đất canh tác, canh tác hữu cơ cũng ghi nhận lợi nhuận trung bình cao hơn. Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) đã ghi nhận mức trung bình cao hơn so với lĩnh vực canh tác thông thường trong khi tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) không có lợi cho nông nghiệp hữu cơ. Kế thừa nghiên cứu và phát triển phù hợp Tham khảo từ các nghiên cứu trước của Nguyễn Văn Thành và cộng sự (2020), Khổng Tiến Dũng (2020) dé tài đã kế thừa được phương pháp nghiên cứu về phân tích hiệu quả sản xuất của mô hình sản xuất hữu cơ bằng các chỉ số hiệu quả kinh tế: tỷ suất lợi nhuận/doanh thu, tỷ suất lợi nhuận/chỉ phí, tỷ suất thu nhập/doanh thu.
Đối với cây con dài ngày dùng các chỉ tiêu NPV, IRR và BCR dé tính toán. Nghiên cứu này cũng tìm ra các yếu tô ảnh hưởng đến quyết định sẵn lòng chuyền sang mô hình sản xuất hữu cơ của người dân bằng phương pháp phân tích hồi quy hàm nhị phân Logit. Đề tài kế thừa mô hình của Không Tiến Dũng (2020), Canwat và cộng sự (2021) áp dung mô hình Logit với biến phụ thuộc là có ý định (Y = 1) hoặc không có ý định (Y = 0) chấp nhận ứng dụng sản xuất hữu cơ. Đồng thời cũng dựa kết quả nghiên cứu của Không Tiến Dũng (2020), Canwat và cộng sự (2021), đề tài kế thừa với 6 biến độc lập là yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận sản xuất hữu cơ: (1) thu nhập; (2) lao động chính (3) trình độ học van; (4) diện tích đất; (5) vay vốn; (6) tập huấn khuyến nông.
Đề tài kế thừa 6 biến độc lập của các nghiên cứu nói trên và xây dựng thêm 3 biến phù hợp với thực tiễn như sau: (1) Dân tộc: Do vùng cần chuyền giao có người dân tộc Raglai và người kinh sống gần kề Trung tâm NC và Chuyên giao, nên kỳ vọng là người kinh sẽ dé chap nhận. Đây là biến giả (Dummy), ký hiệu là DT. Nhận thức hiệu quả khi ứng dụng mô hình sản xuất hữu cơ sẽ có hiệu quả cao hơn các mô hình truyền thống. Nếu nhận thức rằng nó có hiệu quả hơn thì dễ dàng chấp nhận ứng dụng.
Biến được xác định theo biến giả (dummy). Ký hiệu biến là HQ. (3) Kinh nghiệm số năm làm nông có tác động đến ý định chấp nhận sản xuất hữu cơ, vì nhận biết giá cả thị trường sản phẩm sạch cao hơn, cũng như sản xuất theo truyền thông sử dụng hoá chât và thuôc trừ sâu sẽ ảnh hưởng sức Khỏe của chính mình. Kỳ vọng số năm làm nông càng nhiều càng dé chấp nhận ứng dụng.
Ký hiệu biến là KN. Tổng quan địa bàn nghiên cứu 1. Điều kiện tự nhiên Vi trí địa lý Huyện Bác Ái nằm ở phía tây bắc tỉnh Ninh Thuận, có vị trí địa lý: Phía bắc giáp các huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh và thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Phía tây giáp các huyện Lạc Dương, Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng Phía nam giáp huyện Ninh Son và thành phố Phan Rang — Tháp Chàm Phía đông giáp các huyện Thuận Bắc và Ninh Hải. Ban Dé Hanh Chinh Huyén Bac Ai Nguồn: UBND tỉnh Ninh Thuận, 2019.
Huyện có diện tích 1.027,22 km’, đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Nha Trang — Phan Thiết đi qua dang được xây dựng.