ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Sự cần thiết nghiên cứu Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong hai vựa lúa quan trọng của cả nước với tổng diện tích khoảng 4 triệu hecta, chiếm khoảng 12% tổng diện tích lãnh thổ Việt Nam. ĐBSCL là khu vực có tiềm năng rất lớn để phát triển nền nông nghiệp hiện đại của đất nước. Hơn thế nữa, ĐBSCL đóng góp khoảng 55% đến 60% trong tổng sản xuất nông nghiệp và khoảng 65% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp quốc gia. Trong đó, sản xuất lúa gạo đạt 60% trong tổng sản lượng và khoảng 65% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của quốc gia (Nguồn: tính toán từ số liệu cục Thống Kê, 2010).
Vai trò của hạt lúa quan trọng là vậy nhưng người nông dân là người trực tiếp không quản” một nắng hai sương” làm ra hạt lúa lại có cuộc sống vô cùng khó khăn do giá lúa bấp bênh trong khi giá các yếu tố đầu vào ngày càng tăng như phân bón, thuốc trừ sâu, giống, công lao động. Không nằm ngoài hoàn cảnh chung đó, nông dân của huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp đang gặp không ít khó khăn trong việc sản xuất lúa. Toàn tỉnh Đồng Tháp hiện có rất nhiều lao động làm việc trong các ngành nông nghiệp và lâm nghiệp. Trong đó Thanh Bình là một trong các huyện có diện tích gieo trồng lúa cao của tỉnh Đồng Tháp.
Vì vậy, nơi đây người dân sống chủ yếu từ hoạt động nông nghiệp mà trong đó trồng lúa được xem là một nghề truyền thống và mang lại nguồn sống chủ yếu cho người dân. Do đó, các nông hộ sản xuất lúa tại đây cũng không tránh khỏi những khó khăn thách thức, trồng lúa ngày càng vất vả nhưng nguồn thu từ lúa trong những năm qua thì khá bấp bênh đã khiến cho người nông dân không còn mấy mặn mà với cái nghề cha truyền con nối này mà dần dần xu hướng chuyển đổi mục đích canh tác của nông dân diễn ra khá nhanh chóng làm mất ổn định cho sản xuất, thất thu và kéo theo các ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế toàn xã hội. Do đó, việc phân tích, đánh giá hiệu quả sản xuất lúa tại địa bàn huyện Thanh Bình để tìm ra hướng đi mới cho nông dân là vô cùng cần thiết.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn Lúa được xem là cây trồng chủ yếu ở các nước Châu Á và sản phẩm lúa gắn liền với đời sống con người gần 10.000 năm, riêng khu vực Châu Á với hơn 3 tỷ dân đang sản xuất và tiêu dùng hơn 90% sản lượng gạo của thế giới. Cuộc cách mạng “xanh” đã giúp các nước Châu Á tránh được tình trạng thiếu lương thực và cải thiện đời sống 1 vùng nông thôn xuất phát từ việc giảm được 30% chi phí sản xuất nhờ áp dụng kỹ thuật sản xuất cải tiến.
Thực trạng sản xuất lúa gạo của Việt Nam đã trì trệ ở thập niên 1960 và tăng nhẹ vào những năm 1970, trong giai đoạn này không có sự mở rộng diện tích cũng như tăng năng suất do ảnh hưởng của chiến tranh. Tuy nhiên, đến những năm sau thập niên 1980, 1990 thì sản xuất lúa gạo đạt tốc độ tăng trưởng cao bình quân 5%/năm trong giai đoạn 1980 – 2000; trong đó, tăng năng suất đóng góp 3,5% và tăng diện tích canh tác chiếm 1,5% (Trần Thị Út, 2002). Với tốc độ tăng trưởng trên đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất của thế giới từ năm 1989; cụ thể năm 2005, sản lượng gạo xuất khẩu trên 5,2 triệu tấn đạt kim ngạch trên 1,2 tỷ đô la (Thời báo Kinh tế Việt Nam, 20/02/2006). Ngày nay, xu thế phát triển của các hoạt động kinh tế đã và đang dẫn đến việc đô thị hóa các vùng nông thôn chuyên sản xuất nông nghiệp.
Điều này làm giảm diện tích đất canh tác ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) như Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang, Long An là các tỉnh, thành điển hình. Chúng ta có thể thấy rằng phân tích việc áp dụng khoa học kỹ thuật trở thành là trong những vấn đề cần thiết hiện nay, nhằm mục đích chỉ ra những mặt tích cực cũng như những hạn chế về mặt nguồn lực, chính sách trong quá trình triển khai. Và cuối cùng là đưa ra các đề xuất thiết thực trong việc áp dụng kỹ thuật phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế đối với nông hộ. Xuất phát từ hoạt động sản xuất thực tiễn và những định hướng sản xuất mang tính bền vững trong tương lai đối với nông hộ sản xuất nông nghiệp của vùng đồng bằng sông Cửu Long.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Mục tiêu chung Phân tích thực trạng và hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp và đề ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Thanh Bình – Đồng Tháp.2 Mục tiêu cụ thể Để làm rõ mục tiêu chung của đề tài phân tích thực trạng và hiệu quả sản xuất lúa của người nông dân tại huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, đề tài nghiên cứu sẽ xác định những mục tiêu cụ thể trong đề tài này như sau: (1) Đánh giá thực trạng sản xuất lúa tại huyện Thanh Bình – tỉnh Đồng Tháp (2) Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ huyện Thanh Bình – tỉnh Đồng Tháp.
2 (3) Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ tại địa bàn huyện Thanh Bình – tỉnh Đồng Tháp 1.3 KIỂM ĐỊNH GIẢ THIẾT VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 1.1 Kiểm định giả thuyết Để giải quyết được các mục tiêu đề ra đề tài cần kiểm định những giả thuyết sau: (1) Các yếu tố đầu vào (Chi phí giống, phân bón, thuốc trừ sâu, lao động,.) không ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được của nông hộ sản xuất lúa. (2) Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất không mang lại hiệu quả cho nông dân huyện Thanh Bình – tỉnh Đồng Tháp.2 Câu hỏi nghiên cứu Để giải quyết những mục tiêu và kiểm định giả thuyết, đề tài cần trả lời những câu hỏi sau: (1) Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa của người nông dân huyện Thanh Bình hiện tại như thế nào? - Tình hình sản xuất lúa của nông dân huyện Thanh Bình như thế nào? - Nông dân huyện Thanh bình có những thuận lợi gì trong sản xuất lúa? - Những khó khăn thách thức nào mà nhà nông huyện Thanh Bình đang phải đối mặt? - Tình hình tiêu thụ lúa của nông dân Thanh bình như thế nào? (2) Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa của nông dân Thanh Bình? - Sản lượng lúa có chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố đầu vào không? và ảnh hưởng như thế nào? - Các tiến bộ KHKT đã ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng lúa của nông dân huyện Thanh Bình? - Lợi nhuận thu được của nông dân Thanh Bình trong hoạt động sản xuất lúa chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố nào? và ảnh hưởng như thế nào? (3) Giải pháp nào là chủ yếu để có thể nâng cao hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ huyện Thanh Bình? 3 1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG THỤ HƯỞNG 1.1 Giới hạn thời gian nghiên cứu Đề tài sử dụng những thông tin và số liệu thống kê mới nhất và bộ số liệu sơ cấp được thực hiện thu thập 2010 – 2011 1.2 Giới hạn về vùng nghiên cứu Do giới hạn về nguồn kinh phí và thời gian, nên trong nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu trường hợp tại huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.3 Giới hạn về nội dung nghiên cứu Nội dung nghiên cứu của đề tài chỉ xoay quanh việc phản ánh thực trạng sản xuất lúa. Phân tích hiệu quả sản xuất của người nông dân trên địa bàn nghiên cứu (ảnh hưởng của các yếu tố chi phí đầu vào đến sản lượng thu hoạch lúa của người nông dân, ảnh hưởng của các yếu tố chi phí đầu vào đến lợi nhuận của người nông dân). Đề ra các giải pháp và kiến nghị.4 Đối tượng thụ hưởng Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở để giúp người nông dân tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả và năng suất sản xuất.
Bên cạnh đó đề tài cũng nêu lên những kiến nghị đối với các ngành chức năng nhằm hỗ trợ người nông dân tốt hơn trong việc nâng cao năng suất, cũng như hiệu quả sản xuất lúa, góp phần nâng cao đời sống cho người dân và mang lại hiệu quả thiết thực cho xã hội. 4 CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Để có cơ sở lý thuyết phục vụ cho quá trình làm đề tài, tác giả đã sưu tầm và nghiên cứu những công trình khoa học đã công bố của một số tác giả có uy tín và những tài liệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế nông nghiệp cụ thể là liên quan đến hiệu quả sản xuất lúa. Dưới đây là những nghiên cứu mà tác giả sử dụng để lược khảo: Mai Văn Nam (2006), ”Nghiên cứu lợi thế so sánh sản phẩm lúa ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”. Đề tài này nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm mô tả thực trạng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm lúa.
Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas để phân tích và xác định các nhân tố đầu vào ảnh hưởng đến năng suất lúa. Kết quả phân tích từ hàm Cobb-Douglas giúp xác định mức độ tác động của từng nhân tố đầu vào đến các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa. Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng phương pháp phân tích lợi thế so sánh (DRC) để so sánh giữa chi phí cơ hội của sản xuất nội địa với giá trị tăng thêm do nó tạo ra. Mai Văn Nam (1999), ”Hiệu quả sản xuất lúa và một số giải pháp nhằm tăng hiệu quả sản xuất lúa ở tỉnh Cần Thơ”.
Trong đề tài các tác giả đã sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để phân tích, đánh giá các yếu tố đầu vào bình quân (lượng giống, lượng phân bón, chi phí thuốc bảo vệ thực vật, ngày công lao động, chi phí tưới tiêu và biến dummy phân loại mùa vụ qua các năm) ảnh hưởng đến năng suất lúa như thế nào. Ngoài ra các tác giả còn sử dụng hàm giới hạn khả năng sản xuất Frontier được ước lượng bằng phương pháp đánh giá tối ưu (MLE-Maximum Likelihood Estination) trên phần mềm LIMDEP để phân tích điểm xuất lượng tối ưu mà tại đó năng suất đạt được cao nhất với chi phí đầu tư canh tác thấp nhất.