Mở đầu Khái quát về lý do chọn đề tai, mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể của đề tai, gidi han phạm vi nghiên cứu va cấu trúc bai luận. Chương II Tổng quan Trình bày tổng quan tài liệu có liên quan đề tài nghiên cứu, sơ lược về cao su và sự phát triển của cây cao su, sơ lược về công nghệ Gastech, và các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội tại địa bàn nghiên cứu. Chương III Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Trình bày các lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu bao gồm: các khái niệm, các cơ sở, các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu. Chương IV Kết quả Dựa vào số liệu thu thập được từ thực tế, tiến hành xử lý, đánh giá kết quả và hiệu qua thông qua các chỉ tiêu đã nêu ở chương III.
Phân tích thực trạng của địa ban nghiên cứu và các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất mủ cao su áp dụng công nghệ Gastech. Chương V Kết luận và kiến nghị Nêu lại kết quả nghiên cứu một cách ngắn gọn, ý nghĩa. Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cao su áp dụng công nghệ Gastech tại thị xã Hòa Thành. CHUONG 2 TONG QUAN 2.
Tài liệu tham khảo Trần Tiến Khai và cộng sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả sản xuất dừa ở nông hộ tỉnh Bến Tre. Khảo sát dựa trên 120 nông hộ, với 32 hộ trồng dừa mới, 32 hộ trồng dừa tươi và 56 hộ trồng dừa nông nghiệp. Bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích chi phí, giá thành, doanh thu và lợi nhuận của nông hộ nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất dừa trong điều kiện giá dừa bị biến động. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tuy giá cả bị biến động nhưng dừa vẫn là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao và nên được đầu tư phát triển trong tương lai.
Nhằm so sánh hiệu quả tài chính của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và không ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Vũ Sơn và cộng sự (2014) đã khảo sát 750 nông hộ sản xuất lúa. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chon mau phân tầng kết hợp với ngẫu nhiên được sử dụng dé tiến hành thu thập số liệu; phương pháp thông kê mô tả để phân tích tình hình ứng dụng tiễn bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa của hộ trồng lúa, phương pháp kiểm định Independent Samples T-Test được sử dụng để so sánh việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và không ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả tài chính của việc ứng dụng sản xuất lúa có kỹ thuật cao hơn không ứng dụng khoa học kỹ thuật. Từ đó, tác giả đưa ra một số đề xuất đối với nông hộ và chính quyền địa phương cũng như các tô chức viện, trường nhằm giúp nông dân ứng dụng khoa học kỹ thuật đạt hiệu quả hơn.
Moses Kwadzo (2015) đã thực hiện nghiên cứu xác định các yêu tố ảnh hưởng đến hành vi chuyền đôi cây trồng giữa các nông dân sản xuất cacao nhỏ ở quận Mpohor- Wassa đông của khu vực miền tây Ghana. Nghiên cứu sử dụng các biến trong mô hình logit như: giới tính, trình độ học vấn, tuổi, diện tích canh tác, quy mô hộ gia đình, kinh nghiệm, lợi nhuận. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố chính ảnh hưởng là quy mô hộ gia đình, kinh nghiệm, lợi nhuận có ảnh hưởng đến hành vi thay đổi cây trồng. Kết quả chỉ ra rằng 73% hộ nông dân trồng cacao chuyền sang trồng cao su.
Trần Đăng Huy và cộng sự (2017) đã tiến hành nghiên cứu 200 hộ trồng sắn nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất sắn ở huyện Bốc Trạch tỉnh Quảng Bình. Kết quả cho thấy hiệu quả kinh tế sản xuất sắn là khá cao, với bình quân nông hộ thu được 16,5 triệu đồng/sào. Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy đa biến nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yêu tố đến năng suất sắn. Kết quả nghiên cứu cho thấy công lao động và diện tích có ảnh hưởng đến năng suất trồng.
Nhìn chung, kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất sắn là khá cao, bên cạnh những khó khăn thì hoạt động sản xuất sẵn vẫn phát triển tốt, tạo thêm thu nhập và cải thiện mức sống của người dân. Nhằm phân tích hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long, Lê Cảnh Dũng và cộng sự (2019) đã tiễn hành khảo sát 470 nông hộ trồng lúa. Nghiên cứu sử dụng mô hình Cobb-Douglas kết hợp với hàm phi hiệu quả theo phương pháp ước lượng một bước đề phân tích hiệu quả kinh tế. Kết quả ước lượng chỉ ra rằng: hiệu quả kinh tế trồng lúa là khá cao; các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận bao gồm tuổi, kinh nghiệm, trình độ học vấn, mức độ tham gia tập huấn và số lao động tham gia sản xuất lúa.
Đề gia tăng hiệu quả kinh tế cần sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hợp lý, lựa chọn kênh phân phối sản phâm đầu ra phù hợp. Tây Nguyên đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nước thường xuyên và với mức độ ngày càng tram trọng hơn. Nguyễn Phượng Lê và cộng sự (2020) đã chỉ ra hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê có sử dụng công nghệ tưới tiết kiệm trên địa bàn huyện Cư M’ gar, tinh Dak Lắk. Số liệu thu thập từ 33 hộ sản xuất cà phê dang ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm và 30 hộ sản xuất cà phê sử dụng công nghệ tưới truyền thống.
Phương pháp nghiên cứu bao gồm: thống kê mô tả, thong kê kinh tế có kiểm định T-test dựa trên giả định hai tổng thể có phương sai khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy các công nghệ tưới tiết kiệm có hiệu quả kinh tế cao hơn so với công nghệ tưới truyền thống. Mặc dù vậy, ty lệ hộ ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm ở huyện còn rất thấp. Chính vì thế, cần hỗ trợ vốn cho người sản xuất, nâng cao nhận thức và năng lực sản xuất của hộ, tăng cường công tác khuyến nông và hỗ trợ kỹ thuật cho nông hộ.
Đỗ Thị Nhài và cộng sự (2021) khảo sát dựa trên 65 nông hộ đã đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình trồng xoài ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và thống kê so sánh đề phân tích hiệu quả của mô hình trồng xoài. Kết quả nghiên cứu cho thay các hộ ứng dụng công nghệ cao giúp tăng năng suất, chất lượng an toàn thực pham của xoai, thu nhập cua hộ sản xuất tăng cao. Từ đó, tác giả đưa ra một sỐ khuyến nghị ứng dụng công nghệ cao hướng đến nông sản sạch nhằm hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón giúp bảo vệ môi trường.
Tổng quan địa bàn nghiên cứu 2. Vị trí địa lý Tây Ninh là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Tây Ninh nằm ở vị trí cầu nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnom Penh, vương quốc Campuchia và là một trong những tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tỉnh có thành phó Tây Ninh nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 100 km theo đường Quốc lộ 22, cách biên giới Campuchia 40km về phía Tây Bắc.
Tỉnh Tây Ninh được xem là một trong những cửa ngõ giao lưu trao đổi hàng hóa giữa các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Tây Ninh ngày càng phát triển vững chắc đồng thời đã xây dựng được hệ thống các nhà máy chế biến nông sản tại các vùng chuyên canh như các nhà máu đường, các nhà máy chế biến bột củ mì, các nhà máy chế biến mủ cao su, từng bước xây dựng các khu công nghiệp trong tỉnh (Cục thống kê tỉnh Tây Ninh, 2015). Vị trí thị xã Hòa Thành: Thị xã Hòa Thành nằm ở trung tâm của tỉnh Tây Ninh, có diện tích 82,92 km”. Thị xã Hòa Thành có vị trí địa lý như sau: - Phía đông và đông bắc giáp huyện Dương Minh Châu.
- Phía đông nam giáp huyện Gò Dầu. - Phía tây và phía nam giáp huyện Châu Thành. - Phía bắc giáp thành phố Tây Ninh. Nguồn: Ảnh chụp trên Google Map 2.
Khí hậu, thời tiết Khí hậu: Hòa Thành có khí hậu tương đối ôn hòa, chia thành hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô thường kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11. Nhiệt độ tương đối ồn định, với nhiệt độ trung bình năm là 26 — 27 °C và ít thay đổi.
Lượng mưa trung bình hang năm từ 1800 — 2200 mm. Mặt khác, do Tây Ninh nằm sâu trong lực địa, có địa hình cao nằm sau dãy Trường Sơn nên ít chịu ảnh hưởng của bão và có những yếu tố bất lợi khác. Từ những lợi thế đó, thị xã Hòa Thành có những điều kiện thuận lợi dé phát triển nền nông nghiệp đa dạng, đặc biệt là các loại cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu và chăn nuôi gia súc. Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm biến động từ 2045 — 2325 mm.
Mùa mưa thường diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11 và chiếm 90% lượng mưa cả năm. Số ngày mưa trong năm khoảng 142 ngày, mưa nhiều nhất vào các tháng 7,8 và thang 9; các tháng 1,2,3 thường it có mua. Mua gây lũ thường xảy ra vào các tháng 8,9,10. Nhiệt độ không khí: Do nằm trong vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu, cận xích đạo nên Tây Ninh có nhiệt độ bình quân trong năm cao đều và 6n định từ 25,8 °C — 26,2 °C.
Nhiệt độ bình quân thấp nhất là 21,5 °C — 22 °C. Nhiệt độ bình quân cao nhất từ 31. Nhìn chung sự thay đổi nhiệt độ qua các tháng không lớn, khoảng 0,7 °C — 3,0°G. Nắng: Nằm trong vùng dồi dào nắng.
Tổng số giờ nắng trong năm trung bình từ 2400 giờ - 2500 giờ. Số giờ nắng bình quân trong ngày 6,2 giờ - 6,6 giờ. Thời gian nắng nhiều nhất vào các tháng 1,2,34; thời gian ít năng nhất vào các tháng 6,7,8,9. Độ am không khí: Độ ẩm tương tối trung bình năm tại các trạm đo từ 80,89% - 81,4%.
Bình quân năm thấp nhất là 45,6% - 53,2%.