Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH MTV AN VŨ. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH MTV AN VŨ. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát chung về phân tích hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế được biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế đặc trưng thiết lập trên cơ sở so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra với chi phí hoặc các yếu tố đầu vào, qua đó phản ánh trình độ sử dụng chi phí hoặc các yếu tố đầu vào nhằm đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội (Đỗ Huyền Trang, 2016). Khái niệm về phân tích hiệu quả kinh doanh Phân tích hiệu quả kinh doanh là quá trình phân tích đánh giá từ việc phân tích hiệu quả sử dụng tài sản từ tổng tài sản cho đến từng loại tài sản, là quá trình đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn từ việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu cho đến việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay và nợ phải trả, và bên cạnh đó là việc đánh giá hiệu quả chi phí cho từng loại chi phí khác nhau. Bên cạnh đó phân tích hiệu quả kinh doanh còn là việc đi sâu nghiên cứu hiệu quả kinh doanh theo yêu cầu của hoạt động quản lý kinh doanh căn cứ vào các tài liệu hạch toán và các tài liệu thông tin kinh tế bằng phương pháp thích hợp, so sánh số liệu và phân tích mối liên hệ nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, từ đó nhằm đề ra phương án và giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Ý nghĩa Thông tin từ các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh cung cấp cho mọi đối tượng quan tâm để có cơ sở khoa học đưa ra các quyết định hữu ích cho các đối tượng khác nhau. Đối với nhà quản trị doanh nghiệp như chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc và các trưởng bộ phận, thu nhận các thông tin từ việc phân tích để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, nguồn vốn, chi phí, từ đó phát huy những mặt tích cực để đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất để khai thác tiềm năng sử dụng của từng yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Đối với nhà đầu tư như cổ đông, công ty liên doanh liên kết thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, lợi nhuận, cổ tức,…để tiếp thêm sức mạnh và đưa ra các quyết định đầu tư thêm, hay rút vốn nhằm thu lợi nhuận cao nhất và đảm bảo an toàn cho vốn đầu tư. 5 Đối với đối tượng cho vay như ngân hàng, kho bạc, tổ chức tài chính thông qua các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh để có cơ sở khoa học đưa ra các quyết định cho vay ngắn hạn, dài hạn, nhiều hay ít vốn nhằm thu được vốn và lãi, đảm bảo an toàn cho các công ty cho vay.
Đối với các cơ quan chức năng của Nhà nước như cơ quan thuế, kiểm toán Nhà nước, cơ quan thống kê thông qua chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn ngân sách để kiểm tra tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước, thực hiện luật kinh doanh, chế độ tài chính có đúng không, đánh giá tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp, các ngành. Thông qua phân tích để kiến nghị với cơ quan chức năng góp phần hoàn thiện chế độ tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển. Thông tin phân tích hiệu quả kinh doanh còn cung cấp cho cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp biết được thực chất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai, từ đó họ an tâm công tác, tâm huyết với công việc. Tóm lại, thông tin phân tích hiệu quả kinh doanh rất hữu ích cho nhiều đối tượng khác nhau, để đưa ra quyết định kinh doanh có lợi cho từng đối tượng cụ thể.
Nhiệm vụ phân tích Xuất phát từ mục tiêu và nhu cầu quản trị của nhà quản lý, khi phân tích hiệu quả kinh doanh cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp nhằm cung cấp thông tin chính xác và hữu ích cho từng đối tượng để đưa ra các quyết định phù hợp. Sử dụng phương pháp phân tích phù hợp cho từng mục tiêu và nội dung cụ thể như vậy mới đảm bảo cho nội dung phân tích đạt hiệu quả cao và tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp. Mỗi một phương pháp thường phù hợp với những mục tiêu và nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh khác nhau. Để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh, các chuyên gia phân tích thường sử dụng phương pháp so sánh và phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh trên các góc độ như tỷ suất sinh lời của vốn, tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu, lãi cơ bản trên cổ phiếu,…Mặc khác khi phân tích hiệu quả kinh doanh của từng bộ phận cần kết hợp nhiều phương pháp phân tích như so sánh, loại trừ.
Phương pháp loại trừ mới xác định được ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích bằng lượng cụ thể. Từ đó xem xét mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố của mỗi nhân tố, đâu là nhân tố tích cực, tiêu cực, đâu là nhân tố bên trong và bên ngoài; từ đó đưa ra các biện pháp tương ứng, nhằm nâng cao hiệu quả HĐKD. Tài liệu phục vụ cho phân tích HQKD chủ yếu là Báo cáo kết quả kinh doanh, Bảng cân đối kế toán, Thuyết minh báo cáo tài chính, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Bên 6 cạnh đó kết hợp các sổ chi tiết, sổ tổng hợp của kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Nhiệm vụ của phân tích hiệu quả kinh doanh được xét trên mọi góc độ như phân tích hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả sử dụng nguồn vốn, hiệu quả sử dụng chi phí. Tùy theo mục tiêu các nhà quản trị kinh doanh có thể phân tích chi tiết, đánh giá khái quát,…sau đó tổng hợp để đưa ra các nhận xét. Phân loại hiệu quả kinh doanh Hiệu quả là một phạm trù lớn mang tính tổng hợp. Vì vậy, trong việc tiếp cận, phân tích và đánh giá chỉ tiêu này cần nhận thức rõ về tính đa dạng các chỉ tiêu hiệu quả và phân loại chỉ tiêu hiệu quả theo căn cứ sau: * Căn cứ vào nội dung, tính chất của các kết quả nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của mục tiêu, người ta chia hiệu quả thành: + Hiệu quả kinh tế + Các hiệu quả khác như: xã hội, an ninh, quốc phòng và các yêu cầu về chính trị.
* Căn cứ theo yêu cầu tổ chức xã hội và tổ chức quản lý kinh tế theo cấp quản lý trong nền kinh tế quốc dân, người ta chia hiệu quả thành: + Hiệu quả kinh tế quốc dân + Hiệu quả kinh tế vùng, địa phương + Hiệu quả kinh tế của sản xuất xã hội + Hiệu quả kinh tế của các khu vực phi sản xuất như: giáo dục, y tế,… + Hiệu quả kinh tế doanh nghiệp * Căn cứ theo các nguyên nhân, các yếu tố sản xuất và các phương hướng tác động đến hiệu quả, người ta chia hiệu quả thành: + Hiệu quả sử dụng lao động + Hiệu quả sử dụng tài sản + Hiệu quả sử dụng chi phí nguồn vốn Hiệu quả kinh tế thể hiện đặc trưng ở mối quan hệ đa dạng giữa lượng kết quả và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Tùy theo thành phần của yếu tố kết quả hay chi phí bỏ ra và tùy theo mối quan hệ giữa kết quả và chi phí, ta có các chỉ tiêu hiệu quả khác nhau. Để đánh giá chính xác cơ sở khoa học hiệu quả sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp bao giờ cũng phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao 7 gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu chi tiết. Các chỉ tiêu đó phản ánh được sản xuất, suất hao phí cũng như sức sinh lợi của từng yếu tố, từng loại vốn và phải thống nhất với công thức đánh giá hiệu quả chung.
Thông tin sử dụng phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Thông tin kế toán Phân tích hiệu quả kinh doanh được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính – được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán. Đó là bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và các báo cáo chi tiết khác. Thông tin bên ngoài Ngoài các thông tin từ BCTC, khi phân tích hiệu quả kinh doanh nhà phân tích còn sử dụng các thông tin thị trường, đối thủ cạnh tranh, tình hình lạm phát… 1.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh 1. Nhóm nhân tố khách quan 1. Yếu tố pháp lý Là các nhân tố thuộc quản lý của Nhà nước là các chủ trương chính sách, biện pháp của Nhà nước tác động vào thị trường. Mặt khác, quản lý của Nhà nước còn ở các thủ tục hành chính, quy định và thủ tục ngân hàng, tài chính, hải quan, xuất nhập khẩu, mua nguyên vật liệu.
Yếu tố kinh tế Các nhân tố này thường được thể hiện qua các chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách tiêu dùng… Nhân tố chính trị xã hội cũng tác động trực tiếp đến kinh tế và do đó cũng tác động trực tiếp đến thị trường bởi tính ổn định của nó là tiền đề để phát triển kinh tế. Thị trường thay đổi liên tục dẫn đến nhân tố bên trong doanh nghiệp như cơ cấu tài sản, nguồn vốn hay chiến lược hoạt động sản xuất của DN cũng bị ảnh hưởng. Yếu tố văn hóa, xã hội Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó. Những giá trị văn hóa là những giá trị làm nên một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển.
Chính vì thế các yếu tố văn hóa thông thường được bảo vệ hết sức quy mô và chặt chẽ, đặc biệt là các văn hóa tinh thần.