CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÀNH VI ỨNG DỤNG (ABA) TRONG QUẢN LÝ HÀNH VI CHO THIẾU NIÊN RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ HỌC NGHỀ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới Năm 1960, các nhà tâm lí học Charles Ferster, Ivar Lovaas, Montrose Wolf và Todd Risley đã bắt đầu tìm hiểu nghiên cứu về tiếp cận phân tích hành vi. Tuy nhiên, đến năm 1980, ABA mới được coi là một phương pháp can thiệp hành vi cho tự kỷ.
ABA sử dụng các quy trình rút ra từ các nguyên tắc của hành vi tạo tác để nâng cao hành vi có ý nghĩa 1 cách chủ đích. Các phương pháp ABA được thiết kế để minh họa các quá trình có tác dụng thúc đẩy hành vi thông quan dữ liệu khách quan, rõ ràng. [5] Các hành vi thường gặp ở các bạn rối loạn phổ tự kỷ là: Hành vi chống đối, hành vi rập khuôn, hành vi tự xâm kích ( C.Lord và cộng sự năm 2001; Myers và cộng sự 2007). Những hành vi này có thể gây tổn thương đến các em và người khác cũng như cản trở quá trình học tập và tham gia cộng đồng.
Việc tìm ra nguyên nhân của hành vi và giải quyết hành vi của các em rất phức tạp và cần rất nhiều thời gian nhưng đây là điều cần thiết trong can thiệp sớm giáo dục các em. ABA cũng được chứng minh trong nhiều nghiên cứu là một phương pháp hiệu quả để loại bỏ hoặc hạn chế các hành vi có vấn đề. Điển hình là nghiên cứu của Campbell. Báo cáo đánh giá của Campbell đã phân tích 117 nghiên cứu sử dụng 181 trẻ và kết luận rằng phương pháp can thiệp phân tích hành vi ứng dụng hiệu quả trong việc giải quyết hành vi có vấn đề ở các em Rối loạn phổ tự kỷ.
Độ tuổi trung bình của các em tham gia là 10 tuổi, trong độ tuổi từ 5 đến 15 tuổi. Bài phân tích của Campbell thấy rằng khách thể nghiên cứu giảm vấn đề hành vi thách thức. [5] ABA còn được đưa ra bởi Ivar Lovaas có thể coi là phương pháp phổ biến nhất, được sử dụng nhiều nhất là phương pháp can thiệp hiệu quả cho tự kỷ. Các nghiên cứu bởi Lovaas (1987) và Luiselli, Cannon, Ellis và Sisson (2000) cho thấy ABA hiệu quả trong cải thiện khả năng nhận thức.
kỹ năng ngôn ngữ, hành vi thích nghi ở các bạn rối loạn phổ tự kỷ. ABA nhằm tìm ra và hiểu rõ các nguyên tắc hành vi cơ bản có chức năng của một hành vi cụ thể nào đó được cân nhắc đến trong quá trình thiết kế những phương pháp can thiệp thay đổi hành vi. 8 Những phương pháp can thiệp được thiết kế riêng cho người nào đó ý thức được rằng chức năng của hành vi phân biệt dựa vào sự kết hợp phức tạp của nhiều biến số. Các nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu bài bản về các phương pháp can thiệp cho trẻ tự kỷ nhưng sử dụng ABA để quản lí hành vi cho thiếu niên tự kỷ học nghề còn chưa phổ biến lắm.
Năm 2007, tác giả Quách Thủy Minh đã tiến hành nghiên cứu " Tìm hiểu một số gia đình và hành vi của trẻ tự kỷ tại khoa Tâm thần Bệnh viện Nhi Trung Ương" cho kết quả là 48,9% trẻ thường xuyên xem tivi, quảng cáo, băng đĩa hình quá nhiều hàng ngày. 60% trẻ không đi mẫu giáo, 51,1% cha mẹ có quá ít thời gian tiếp xúc với con. [2] Tác giả Ngô Xuân Điệp (2009), luận án Tiến sĩ “ Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh" tác giả đã áp dụng phương pháp ABA và ngôn ngữ trị liệu Nghiên cứu cho kết quả là khả năng nhận thức của trẻ tự kỷ kém hơn nhiều so với trẻ bình thường. Mức độ tự kỷ, khả năng phát triển tâm vận động, độ tuổi có ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của trẻ tự kỷ.
Không có sự chênh lệch về mức độ nhận thức giữa trẻ nam và nữ bị tự kỷ. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện nhận thức của trẻ tự kỷ và mối liên quan giữa mức độ chẩn đoán ban đầu với hiệu quả can thiệp. Nghiên cứu về ABA trong quản lý hành vi cho thiếu niên Rối loạn phổ tự kỉ ABA là biện pháp đươ ̣c quan tâm nhiề u nhấ t trong tri ̣ liê ̣u trẻ tự kỷ, được đánh giá là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay. Dựa trên việc trị liệu cho trẻ tự kỷ thì đây là một biện pháp tiếp cận khoa học nhằm hiểu rõ hành vi của thiếu niên.
Các nguyên tắc trị liệu được ứng dụng cho những hành vi quan trọng mang tính xã hội. Biện pháp này được sáng tạo ra dựa trên các lý thuyết khoa học về hành vi. Đối với mỗi thiếu niên, ngay khi bắt đầu chương trình can thiệp, bạn ấy sẽ được đánh giá ban đầu để kiểm tra xem kỹ năng nào đã có, kỹ năng nào chưa có. Sau đó lựa chọn các bài tập, các tài liệu phù hợp với đánh giá ban đầu.
Nội dung rèn luyện chung cũng như của từng buổi sẽ liệt kê từng kỹ năng trong mọi lĩnh vực (giao tiếp, xã hội, kiến thức, tự chăm sóc, vận động, chơi.) các kỹ năng này thường được chia nhỏ thành các kỹ năng thành phần và được sắp xếp theo trình tự phát triển, từ đơn giản đến phức tạp. [9] Có nhiều phương pháp quản lí hành vi cho thiếu niên RLPTK học nghề. Nhưng phương pháp được xem là phù hợp và hiệu quả nhất là phương pháp 9 ABA. Ở thiếu niên khi tham gia vào quá trình học nghề các em thường xuất hiện các hành vi chống đối, hành vi giới tính, hành vi bùng nổ,…Sự xuất hiện của các hành vi này sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình học nghề của các em.
Như ảnh hưởng đến quá trình học và thực hiện các quy trình ở lớp nghề. Ảnh hưởng đến khả năng độc lập và hòa nhập cộng đồng của các em sau này. Việc sử dụng phương pháp ABA giúp các em hạn chế các hành vi tiêu cực trên, tạo cơ hội cho các em phát triển sau khi kết thúc học nghề giúp các em có cuộc sống tự lập hơn. Cơ sở lí luận về thiếu niên Rối loạn phổ tự kỷ 1.
Khái niệm thiếu niên Rối loạn phổ tự kỷ Khái niệm Thiếu niên Tuổi thiếu niên còn được gọi là tuổi vị thành niên thuộc lứa tuổi từ 11 đến 15, tương ứng với độ tuổi học sinh trung học cơ sở. Đây là thời điểm cho sự phát triển vượt bậc và những thay đổi ở tuổi dậy thì (sự trưởng thành về giới tính). Trẻ vị thành niên có thể cao thêm vài inch trong vài tháng, sau đó là thời kỳ tăng trưởng rất chậm. Sau đó, họ có thể có một sự tăng trưởng khác.
Những thay đổi ở tuổi dậy thì có thể diễn ra từ từ. Hoặc một số thay đổi có thể xảy ra cùng một lúc. Điều quan trọng cần nhớ là những thay đổi này sẽ diễn ra khác nhau đối với mỗi thiếu niên. Một số thiếu niên có thể có những dấu hiệu trưởng thành sớm hơn hoặc muộn hơn những người khác.
Mỗi đứa trẻ trải qua tuổi dậy thì theo tốc độ của riêng chúng. Tuổi thiếu niên mang đến nhiều thay đổi. Đây không chỉ là những thay đổi về thể chất, mà còn là những thay đổi về tinh thần và xã hội. Trong những năm này, thanh thiếu niên có thể suy nghĩ trừu tượng hơn.
Theo thời gian, họ có thể lập kế hoạch và đặt mục tiêu dài hạn. Mỗi đứa trẻ có thể tiến bộ với tốc độ khác nhau và có thể có cách nhìn khác nhau về thế giới. Khái niệm Rối loạn phổ tự kỷ Năm 2013, Tổ chức Thống kê những rối nhiễu tâm thần Mỹ, tái bản lần thứ 5 (DSM-5) đã chính thức sử dụng Thuật ngữ Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder) bao gồm rối loạn phổ tự kỷ, hội chứng Asperger và rối loạn phát triển lan tỏa không biệt định theo phân loại cũ. Như vậy, Rối loạn phổ tự kỷ là một phổ rộng và các biểu hiện biến đổi rõ rệt trên từng cá nhân.
[6] Rối loạn phổ tự kỷ ( RLPTK) được đặc trưng bởi những thiếu hụt kéo dài trong giao tiếp xã hội và tương tác trong nhiều bối cảnh, cũng như các kiểu hành 10 vi, sở thích hoặc hoạt động bị hạn chế, lặp đi lặp lại. Những thiếu hụt này xuất hiện ở thời thơ ấu, điển hình là trước 3 tuổi và dẫn đến suy giảm chức năng đáng kể về mặt lâm sàng. Các triệu chứng bao gồm thiếu sự tăng tương tác xã hội hoặc cảm xúc, sử dụng một cách bất thường. DSM-5 dùng thuật ngữ “Rối loạn phổ tự kỷ” để chỉ các rối loạn trong nhóm “rối loạn phát triển lan tỏa” ở DSM-IV-TR và đã nhóm các tiêu chuẩn chẩn đoán từ 3 lĩnh vực (trong DSM-IV-TR dành cho rối loạn tự kỷ) thành 2 lĩnh vực đó là: Suy kém trong tương tác xã hội và giao tiếp (các yếu tố trước đây được đánh giá một cách riêng biệt thì bây giờ được coi như là một khía cạnh của bệnh) và những hành vi cứng nhắc, rập khuôn.
Những cá nhân được chẩn đoán bằng tiêu chí được thiết lập lâu năm DSM- IV, với chẩn đoán là bị rối loạn tự kỷ, rối loạn Asperger, hoặc rối loạn phát triển lan tỏa, nếu không được chỉ định bị những vấn đề khác, thì nên được chẩn đoán thành rối loạn phổ tự kỷ. Những cá nhân có những thiếu hụt rõ ràng trong khả năng giao tiếp xã hội, nhưng ngoài yếu tố này ra lại không có những triệu chứng khác phù hợp với tiêu chí chẩn đoán là rối loạn phổ tự kỷ, thì nên được đánh giá là bị rối loạn giao tiếp xã hội. Khái niệm Thiếu niên rối loạn phổ tự kỷ Thiếu niên rối loạn phổ tự kỷ là những trẻ trong độ tuổi 11 – 15 tuổi có những biểu hiện lâm sàng đặc trưng với khả năng thiếu hụt về kỹ năng xã hội, các hành vi lặp lại và thiếu hụt hay thậm chí không có khả năng giao tiếp và ngôn ngữ. Phân loại mức độ hỗ trợ của trẻ Rối loạn phổ tự kỷ Theo lâm sàng (Theo American Psychiatric Association, 2011) [4] * Cấp độ 1: Cần hỗ trợ ít - Giao tiếp xã hội: + Nếu không có hỗ trợ tại chỗ thì thiếu khả năng giao tiếp xã hội gây ra sự khiếm khuyết xã hội đáng chú ý.
+ Có khó khăn trong việc khởi đầu tương tác xã hội và thể hiện những ví dụ rõ ràng về phản ứng không phù hợp hoặc không thành công với lời đề nghị xã giao từ những người khác.