Tổng quan luận án

Hành động phàn nàn là một hành động ngôn ngữ có bản chất đe dọa thể diện (Face Threatening Acts - FTAs) của người tiếp nhận giao tiếp, xuất hiện phổ biến trong đời sống sinh hoạt hằng ngày giữa các đối tượng và môi trường giao tiếp khác nhau. Dưới góc độ ngữ dụng học, việc biểu thị và mã hóa thái độ, cảm xúc phàn nàn luôn gắn liền với mô hình văn hóa - xã hội của từng cộng đồng ngôn ngữ. Luận án tiến sĩ ngữ văn/ngôn ngữ học của tác giả Dương Quỳnh Nga với đề tài "Hành động phàn nàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật" (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 9229020, thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng năm 2024 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Bùi Trọng Ngoãn và TS. Nguyễn Thị Như Ý) xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu thực tế: trong giới nghiên cứu Việt ngữ và Nhật ngữ, các công trình trước đây chủ yếu đối chiếu hành động phàn nàn giữa tiếng Nhật với một ngôn ngữ khác hoặc chỉ nghiên cứu đơn lẻ nội bộ tiếng Việt; chưa có công trình nào so sánh, đối chiếu một cách hệ thống các đặc điểm ngôn ngữ và chiến lược thực hiện hành động phàn nàn giữa tiếng Việt và tiếng Nhật gắn với bình diện văn hóa.

Mục tiêu nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận án là chỉ ra các đặc điểm của hành động phàn nàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật nhằm tìm ra những nét tương đồng và khác biệt trong cách thức biểu đạt thái độ phàn nàn ở hai ngôn ngữ, hướng đến việc diễn giải vấn đề từ các khía cạnh văn hóa; từ đó đề xuất một số giải pháp trong việc sử dụng hành động phàn nàn nói chung và giảng dạy ngoại ngữ nói riêng.

Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):

  1. Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và xây dựng hệ thống cơ sở lí thuyết cho luận án;
  2. Xác lập khái niệm về hành động phàn nàn, điều kiện thuận ngôn và các tiêu chí giúp nhận diện hành động phàn nàn;
  3. Khảo sát các đặc điểm và chiến lược giao tiếp khi thực hiện hành động phàn nàn trong tiếng Việt;
  4. Khảo sát các đặc điểm và chiến lược giao tiếp khi thực hiện hành động phàn nàn trong tiếng Nhật;
  5. So sánh, đối chiếu hành động phàn nàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật;
  6. Tổng kết các kết quả đã nghiên cứu và rút ra kết luận.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hành động phàn nàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật, trọng tâm là các hành động phàn nàn và nội dung của phát ngôn phàn nàn trong từng ngôn ngữ.
  • Phạm vi và nguồn ngữ liệu khảo sát: Luận án tập trung khảo sát ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật trong các tác phẩm văn học tự sự hiện thực. Tổng dung lượng ngữ liệu khảo sát gồm 1.728 biểu thức ngôn ngữ chứa hành động phàn nàn trong cả tiếng Việt và tiếng Nhật. Trong tiếng Việt, ngữ liệu được trích xuất từ tuyển tập truyện ngắn của ba tác giả: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và Ma Văn Kháng. Trong tiếng Nhật, ngữ liệu được trích xuất từ tuyển tập truyện ngắn của hai tác giả: Naoki Hyakuta và Natsume Soseki.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành điểm luận các công trình nghiên cứu theo hai trục chính: nghiên cứu về hành động ngôn ngữ nói chung và nghiên cứu chuyên sâu về hành động phàn nàn nói riêng.

1. Các nghiên cứu về hành động ngôn ngữ

  • Nghiên cứu quốc tế: Austin (1962) đặt nền móng cho Lí thuyết hành động ngôn ngữ thông qua việc phân chia hành động phát ngôn thành ba cấp độ: hành động tạo ngôn (locutionary act), hành động trung ngôn/ở lời (illocutionary act), và hành động xuyên ngôn/mượn lời (perlocutionary act), cùng bảng phân loại 5 phạm trù hành động ở lời (Phán xử, Hành xử, Cam kết, Trình bày, Ứng xử). J. Searle (1969, 1979) phát triển lí thuyết với 12 tiêu chí phân loại và xác lập 5 phạm trù hành động: Tái hiện (Representatives), Điều khiển (Directives), Cam kết (Commissives), Biểu cảm (Expressives), và Tuyên bố (Declarations). Các tác giả tiếp nối như O. Ducrot (1972), Brown và Levinson (1987), Wierzbicka (1987), Thomas (1995), Yule (1996) đã mở rộng lí thuyết ngữ dụng học về lập luận, lịch sự, và hành động ngôn ngữ gián tiếp.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Lí thuyết ngữ dụng được giới thiệu từ cuối thập niên 1980 với các công trình nền tảng của Đỗ Hữu Châu (1993, 2003), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2004, 2008, 2022), cùng các nghiên cứu của Cao Xuân Hạo (1991), Đỗ Thị Kim Liên, Lê Đông, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Văn Hiệp (2008), Đỗ Việt Hùng (2011), Vũ Thị Thanh Hương. Luận án khái quát các nghiên cứu hành động ngôn ngữ trong nước thành 6 nhóm tiếp cận chính:
TT Nhóm hướng tiếp cận Tác giả và năm công bố tiêu biểu trong văn bản
1 Nghiên cứu nhóm động từ nói năng Đinh Thị Hà (1996), Nguyễn Thị Ngân (1996), Vũ Tiến Dũng (2003), Nguyễn Thị Thanh Ngân (2012)
2 Nghiên cứu hành động ngôn ngữ cụ thể Nguyễn Phương Chi (1997), Đỗ Quang Việt (2003), Nguyễn Thủy Minh (2006), Vũ Thị Nga (2010), Đào Thanh Lan (2012), Nguyễn Thị Thanh Huệ (2015), Phan Thị Thanh Thủy (2016)
3 Nghiên cứu hành động ngôn ngữ trong các sự kiện lời nói Nguyễn Thị Hoàng Yến (2006), Dương Tuyết Hạnh (2007), Chử Thị Bích (2008), Vũ Tố Nga (2010), Nguyễn Thu Hạnh (2022)
4 Nghiên cứu hành động ngôn ngữ trong cặp thoại hoặc cặp trao đáp Phạm Thị Hà (2013), Nguyễn Thị Mai Hoa (2016), Đàm Thị Ngọc Ngà (2016), Nguyễn Văn Đồng (2018)
5 Nghiên cứu hành động ngôn ngữ trong tác phẩm văn học Đặng Thị Mai Hồng (2001), Phan Thị Việt Anh (2009), Cao Xuân Hải (2010), Đặng Thị Hảo Tâm (2011), Trần Thị Hoàng Yến (2014)
6 Nghiên cứu hành động ngôn ngữ có đối sánh với ngôn ngữ khác Nguyễn Văn Quang (1999), Nguyễn Văn Độ (2000), Trần Chi Mai (2005), Trần Kim Hằng (2011), Nguyễn Phương Chi (2014), Trương Văn Định (2015), Lê Thị Thúy Hà (2015), Trần Thị Phương Thu (2015), Nguyễn Thị Mai Hoa (2016)

2. Các nghiên cứu chuyên sâu về hành động phàn nàn

  • Nghiên cứu quốc tế:
    • Murphy & Neu (1996), Trosborg (1995), Olshtain & Weinbach (1985) phân loại chiến lược phàn nàn thành hai nhóm: trực tiếp (direct complaints) và gián tiếp (indirect complaints), đồng thời xác định 5 thang độ nghiêm trọng của lời phàn nàn (least severe, somewhat severe, fairly severe, severe, very severe) và các phương thức gia tăng/giảm nhẹ mức độ trầm trọng.
    • Tại Nhật Bản: Hajikano, Tetsuo Kumatoridani và Hiroko Fujimori (1996) đối chiếu hành động phàn nàn của người Nhật với người nước ngoài học tiếng Nhật, chỉ ra khuynh hướng duy trì chữ "hòa" (wa) và tránh đối đầu của người Nhật. Guo Hekiran (2007) phân tích các nhân tố bên ngoài (vị thế xã hội, quan hệ thân - sơ, tuổi tác, giới tính) và nhân tố bên trong ảnh hưởng đến chiến lược phàn nàn. Park Seung Won (2000) nghiên cứu yếu tố phi lời và lời mào đầu (lead) khi phàn nàn giữa người Nhật và người Hàn. Lee Sun Hee (2006) đối chiếu biểu thức mở đầu và kết thúc phàn nàn giữa tiếng Nhật và tiếng Hàn. Dong Hua Cui (2008) so sánh phản ứng phàn nàn giữa người Nhật và người Trung Quốc. Woo Saming (2017) khảo sát chiến lược lịch sự âm tính của người Nhật và lịch sự dương tính của người Thái khi bị phàn nàn. Prokopeva Mariia (2020) đối chiếu khuynh hướng nói vòng vo của người Nhật với sự trực diện của người Nga khi phàn nàn.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam:
    • Lại Thị Minh Đức (2001) nghiên cứu hành vi than phiền trong tiếng Việt; Đặng Thị Mai Hồng (2001) khảo sát hành vi trách móc trong ca dao Quảng Bình; Nguyễn Thu Hạnh (2004, 2022) phân tích sự kiện lời nói trách và hành động trách của giáo viên trong môi trường sư phạm; Vũ Minh An (2003) miêu tả cấu trúc các yếu tố tình thái trong lời than phiền; Nguyễn Thị Hoàng Yến (2006) phân tích sự kiện lời nói chê; Phan Thị Việt Anh (2009) nghiên cứu hành vi trách trong ca dao trữ tình; Lê Thị Thúy Hà (2012) nghiên cứu chiến lược phê phán; Phạm Văn Hạnh và Hoàng Thị Huệ (2014) khảo sát hành vi phàn nàn của khách hàng; Đào Thị Thanh Huyền (2023) xác lập cơ sở nhận diện hành vi phàn nàn qua đánh giá chủ quan, phạm vi đối tượng và ngữ cảnh.

Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình đi trước chưa xây dựng một hệ thống tiêu chí nhận diện đầy đủ về dấu hiệu ngôn hành (kết cấu, từ ngữ chuyên dụng, hướng lợi ích) của hành động phàn nàn trong tiếng Việt, đồng thời hoàn toàn thiếu vắng công trình nghiên cứu đối chiếu liên ngôn ngữ và liên văn hóa giữa tiếng Việt và tiếng Nhật về hành động này. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống nêu trên.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Phân loại hành động ngôn ngữ: Dựa trên khung phân loại của J. Searle, hành động phàn nàn được xác định thuộc nhóm hành động Biểu cảm (Expressives), tương ứng với phạm trù Ứng xử (Behabitives) của Austin. Luận án quy tụ các hành vi có cùng bản chất ngữ dụng bao gồm: trách mắng, phê phán, than phiền, kêu ca, than vãn vào phạm trù chung là hành động phàn nàn (xem xét chúng như các đích ở lời cụ thể).
  • Lí thuyết thể diện và lịch sự: Vận dụng mô hình của Brown & Levinson (1987), xác định phàn nàn là hành vi đe dọa thể diện dương tính của người nghe (và tiềm ẩn đe dọa thể diện của cả người nói khi có phản hồi tiêu cực).
  • Mô hình biểu thức ngôn hành của hành động phàn nàn:
    • Biểu thức phàn nàn tường minh:
      • Tiếng Việt: Sp1 + Vphàn nàn + Sp2 + NDPN
      • Tiếng Nhật: Sp1 + Sp2 + NDPN + Vphàn nàn (Trong đó: Sp1 là người nói/người phàn nàn; Sp2 là người nghe/người bị phàn nàn; Vphàn nàn là động từ phàn nàn; NDPN là nội dung phàn nàn. Thực tế khảo sát cho thấy Vphàn nàn không thực hiện chức năng ngôn hành trực tiếp, do đó biểu thức tường minh hầu như không xuất hiện).
    • Biểu thức phàn nàn nguyên cấp (hàm ẩn): Có cấu trúc tổng quát là Sp2 + NDPN hoặc chỉ tồn tại thành phần NDPN (khi Sp1 và Sp2 bị tỉnh lược).
  • Điều kiện thuận ngôn (Felicity conditions) của hành động phàn nàn (theo J. Searle):
    1. Điều kiện nội dung mệnh đề: Tồn tại một hành vi/sự việc do Sp2 thực hiện trước đó gây thiệt hại vật chất, tinh thần cho Sp1, hoặc một vấn đề xã hội tác động tiêu cực đến Sp1.
    2. Điều kiện chuẩn bị: Sp1 có căn cứ cho rằng hành động của Sp2 là sai trái, không phù hợp; Sp1 tin rằng việc nói ra sẽ khiến Sp2 điều chỉnh hoặc chia sẻ, đồng cảm.
    3. Điều kiện chân thành: Sp1 thực sự cảm thấy phiền muộn, bất mãn, không hài lòng đối với hành động/sự việc được nêu trong mệnh đề.
    4. Điều kiện căn bản: Lời phát ngôn được tính là sự thể hiện thái độ không hài lòng, trách cứ hoặc yêu cầu Sp2 nhận thức trách nhiệm về sự việc.

2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và thủ pháp định lượng:

  1. Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đặt phát ngôn phàn nàn vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, gắn với cương vị, vị thế liên nhân của các nhân vật tham gia giao tiếp nhằm phân tích các thành tố trong biểu thức ngôn hành.
  2. Phương pháp miêu tả: Phân tích, hệ thống hóa và thuyết minh các dấu hiệu hình thức, cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa của hành động phàn nàn theo các nhóm chuyên biệt.
  3. Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối chiếu cấu trúc, dấu hiệu nhận diện, chiến lược giao tiếp và đặc trưng văn hóa giữa tiếng Việt và tiếng Nhật.
  4. Thủ pháp thống kê - phân loại: Tập hợp, sàng lọc và phân loại 1.728 ngữ liệu phàn nàn thực tế để xác lập tần suất xuất hiện của các kết cấu, từ ngữ chuyên dụng, đối tượng phàn nàn và chiến lược giao tiếp.

3. Nguồn tư liệu và dữ liệu

Ngữ liệu gồm 1.728 phát ngôn đối thoại chứa hành động phàn nàn được thu thập từ các tác phẩm tự sự hiện thực:

  • Tiếng Việt: Tuyển tập truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ma Văn Kháng.
  • Tiếng Nhật: Tuyển tập truyện ngắn của Naoki Hyakuta và Natsume Soseki.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và Cơ sở lí luận

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về lí thuyết hành động ngôn ngữ và hành động phàn nàn trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả xác lập khung lí thuyết nền tảng dựa trên quan điểm của Austin, Searle, Brown & Levinson, và Wierzbicka. Chương này làm rõ khái niệm hành động phàn nàn, cấu trúc biểu thức ngôn hành tường minh và nguyên cấp, 4 điều kiện thuận ngôn, mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa - phép lịch sự, cũng như lí thuyết nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ.

Chương 1 cung cấp các khung khái quát thông qua hệ thống bảng:

  • Bảng 1.1: Khái quát các nghiên cứu về hành động ngôn ngữ trong tiếng Việt (chia thành 6 nhóm tiếp cận).
  • Bảng 1.2: Đặc điểm đích ở lời của hành động phàn nàn.
  • Bảng 1.3: Đặc điểm của các nhóm đối tượng phàn nàn.

Chương 2: Hành động phàn nàn trong tiếng Việt

Chương 2 tập trung khảo sát 1.728 ngữ liệu tiếng Việt để nhận diện các dấu hiệu ngôn hành và chiến lược giao tiếp của hành động phàn nàn:

  • Dấu hiệu hình thức và từ ngữ chuyên dụng: Do tiếng Việt không sử dụng động từ ngôn hành thực thi trực tiếp cho hành động phàn nàn, việc nhận diện dựa vào các kết cấu cú pháp và từ ngữ chuyên dụng:
    • Vị từ tình thái và vị từ tình thái tính: phải, lại, cứ, cứ... mãi, nỡ, đành...
    • Tiểu từ tình thái cuối câu: à, ư, nhỉ, nhé, cơ, chứ, đấy, mà...
    • Quán ngữ tình thái: rõ ràng là, thảo nào, tưởng là, ai ngờ, nói dại...
    • Thán từ: ôi, trời ơi, khổ quá, ôi chao, chết thật...
    • Các cấu trúc cú pháp biến đổi: Câu tỉnh lược chủ ngữ, câu đảo trật tự từ, câu cảm thán, câu hỏi tu từ.
  • Các nhân tố giao tiếp: Phân tích quan hệ liên nhân giữa Sp1 và Sp2 theo vị thế quyền lực (Sp1 > Sp2: trên vai; Sp1 = Sp2: ngang vai; Sp1 < Sp2: dưới vai) và khoảng cách thân - sơ; xác định hướng lợi ích của hành động phàn nàn và các vấn đề bị phàn nàn.
  • Chiến lược giao tiếp gián tiếp và yếu tố mở rộng: Phân loại 4 nhóm hành động gián tiếp thực hiện phàn nàn (Điều khiển, Biểu cảm, Tái hiện, Cam kết) và các yếu tố mở rộng giảm nhẹ hoặc gia tăng lực ngôn trung (abc ↓, abc ↑).

Chương 2 được minh chứng qua hệ thống dữ liệu:

  • Bảng 2.1: Thống kê các kết cấu phổ biến nhận diện hành động phàn nàn trong tiếng Việt.
  • Bảng 2.2: Thống kê các đối tượng phàn nàn trong tiếng Việt.
  • Bảng 2.3 & 2.4: Thống kê đích ở lời và hướng lợi ích của hành động phàn nàn trong tiếng Việt.
  • Bảng 2.5 & 2.6: Thống kê các vấn đề thường được phàn nàn và tần suất sử dụng hành động phàn nàn gián tiếp trong tiếng Việt.
  • Biểu đồ 2.1, 2.2, 2.3 & Sơ đồ 1: Thống kê từ ngữ phổ biến, quan hệ liên nhân và sơ đồ dấu hiệu hình thức của hành động phàn nàn tiếng Việt.

Chương 3: Hành động phàn nàn trong tiếng Nhật

Chương 3 khảo sát hành động phàn nàn trong tiếng Nhật theo các tiêu chí tương ứng như tiếng Việt:

  • Dấu hiệu hình thức và trợ từ chuyên dụng: Tiếng Nhật là ngôn ngữ chắp dính, ý nghĩa ngữ pháp và ngữ dụng được thể hiện chi tiết thông qua hệ thống trợ từ và chỉ xuất từ:
    • Trợ từ kết thúc (終助詞 - Shuujoshi): よ (yo), ね (ne), わ (wa), な (na), の (no)...
    • Trợ từ quan hệ (係助詞 - Kakujoshi / Keijoshi): は (wa), も (mo), こそ (koso), でも (demo)...
    • Trợ từ cách (格助詞 - Kakujoshi): が (ga), を (o), に (ni), で (de)...
    • Trợ từ nối (接続助詞 - Setsuzokujoshi): けど (kedo), のに (noni), から (kara), ても (temo)...
    • Từ chỉ xuất (指示語 - Shijigo): これ (kore), それ (sore), あれ (are), こんな (konna)...
    • Từ ngữ mang nghĩa tiêu cực (否定的な意味を表す言葉 - Hiteiteki na imi wo arawasu kotoba).
  • Chiến lược giao tiếp gián tiếp trong tiếng Nhật: Cũng được chia thành 4 nhóm theo J. Searle: Điều khiển, Biểu cảm, Tái hiện, Cam kết. Người Nhật có xu hướng tỉnh lược Sp1 và Sp2, sử dụng câu hỏi lửng, câu điều kiện, hoặc lời mào đầu nhằm giảm thiểu tính trực diện.

Chương 3 trình bày các kết quả qua hệ thống dữ liệu:

  • Bảng 3.1: Thống kê các kết cấu phổ biến nhận diện hành động phàn nàn trong tiếng Nhật.
  • Bảng 3.2: Thống kê các đối tượng phàn nàn trong tiếng Nhật.
  • Bảng 3.3 & 3.4: Thống kê đích ở lời và hướng lợi ích của hành động phàn nàn trong tiếng Nhật.
  • Bảng 3.5 & 3.6: Thống kê các vấn đề thường được phàn nàn và tần suất sử dụng hành động phàn nàn gián tiếp trong tiếng Nhật.
  • Biểu đồ 3.1, 3.2, 3.3 & Sơ đồ 2: Thống kê từ ngữ nhận diện, quan hệ liên nhân và sơ đồ dấu hiệu hình thức phàn nàn trong tiếng Nhật.

Chương 4: Đối chiếu hành động phàn nàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật

Chương 4 tiến hành so sánh đối chiếu toàn diện giữa hai ngôn ngữ và liên hệ với đặc trưng văn hóa:

  • Tương đồng: Cả hai ngôn ngữ đều hiếm khi sử dụng biểu thức ngôn hành tường minh có động từ ngôn hành thực thi; phần lớn thực hiện qua biểu thức nguyên cấp hoặc hành động gián tiếp; đều chịu sự chi phối chặt chẽ của quan hệ liên nhân (tuổi tác, vị thế, thân sơ) và quy tắc lịch sự.
  • Khác biệt:
    • Về phương tiện biểu đạt: Tiếng Việt thể hiện qua các vị từ tình thái, tiểu từ cuối câu, thán từ và hệ thống đại từ xưng hô thân tộc phức tạp nhằm thiết lập không khí đối thoại. Tiếng Nhật thể hiện qua hệ thống trợ từ kết thúc, trợ từ nối, ngữ pháp thể bị động/tiêu cực và thường xuyên tỉnh lược đại từ nhân xưng.
    • Về chiến lược giao tiếp và văn hóa: Người Việt có xu hướng bộc lộ cảm xúc rõ nét hơn, sử dụng từ xưng hô thích hợp để vừa giải tỏa bức xúc vừa duy trì sự gắn kết. Người Nhật chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa duy trì sự hòa thuận (wa), tâm lí nhóm và ranh giới trong - ngoài (uchi - soto), do đó triệt để sử dụng chiến lược giảm nhẹ, nói lửng, tránh đối đầu trực tiếp để không làm tổn thương đối phương.
  • Giải pháp và đề xuất: Đề xuất các nguyên tắc lựa chọn chiến lược phàn nàn phù hợp trong giao tiếp thực tế và giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Nhật cho người Việt cũng như dạy tiếng Việt cho người Nhật.

Chương 4 tổng hợp các kết quả đối chiếu qua hệ thống bảng và biểu đồ:

  • Bảng 4.1: So sánh dấu hiệu nhận diện hành động phàn nàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật.
  • Bảng 4.2: So sánh đối tượng phàn nàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật.
  • Bảng 4.3: So sánh các vấn đề thường được phàn nàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật.
  • Bảng 4.4: So sánh chiến lược sử dụng hành động phàn nàn gián tiếp trong tiếng Việt và tiếng Nhật.
  • Biểu đồ 4.1 đến 4.5 & Sơ đồ 3: So sánh dấu hiệu nhận diện, đích ở lời, hướng lợi ích, quan hệ liên nhân, chiến lược gián tiếp và sơ đồ mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

1. Đóng góp về mặt lí luận

  • Góp phần cụ thể hóa và mở rộng lí thuyết hành động phàn nàn trong phạm vi ngữ dụng học đối chiếu giữa hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình khác nhau (tiếng Việt - ngôn ngữ đơn lập, không biến hình và tiếng Nhật - ngôn ngữ chắp dính).
  • Cung cấp cơ sở khoa học xác định các tiêu chí nhận diện hành động phàn nàn khi không có động từ ngôn hành thực thi, làm sáng tỏ vai trò của các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (IFIDs), từ ngữ tình thái, trợ từ và kết cấu cú pháp.
  • Minh chứng sinh động cho mối quan hệ tương tác hai chiều giữa ngôn ngữ học và văn hóa học trong việc kiến tạo và tiếp nhận phát ngôn mang tính đe dọa thể diện.

2. Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp nguồn ngữ liệu đối chiếu gồm 1.728 dẫn chứng thực tế trích từ tác phẩm văn học hiện thực của Việt Nam và Nhật Bản, phục vụ công tác nghiên cứu ngữ dụng học và ngôn ngữ học xã hội.
  • Ứng dụng trực tiếp vào công tác biên soạn tài liệu, giảng dạy tiếng Nhật cho người Việt Nam và giảng dạy tiếng Việt cho người Nhật Bản, giúp người học nắm bắt các quy tắc ngữ dụng và chiến lược lịch sự khi thực hiện hành vi phàn nàn.
  • Hỗ trợ công tác dịch thuật văn học và giao tiếp liên văn hóa Việt - Nhật, hạn chế các lỗi chuyển di ngữ dụng tiêu cực gây hiểu lầm hoặc xung đột giao tiếp.

3. Giải pháp và kiến nghị đề xuất

  • Đề xuất các quy tắc ứng xử và lựa chọn phương tiện ngôn ngữ linh hoạt khi phàn nàn để đạt hiệu quả giao tiếp mà không phá vỡ quan hệ liên nhân.
  • Đề xuất giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy ngoại ngữ: tích hợp kiến thức ngữ dụng học, phân tích hội thoại và các bài tập tình huống văn hóa giao tiếp bên cạnh kiến thức ngữ pháp thuần túy.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phần "Những vấn đề liên quan đến luận án cần được tiếp tục nghiên cứu" và phạm vi xác định trong văn bản:

  • Hạn chế về nguồn ngữ liệu: Ngữ liệu nghiên cứu của luận án chủ yếu tập trung vào ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật trong tác phẩm văn học tự sự (truyện ngắn của 5 tác giả: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ma Văn Kháng, Naoki Hyakuta, Natsume Soseki). Mặc dù các tác phẩm phản ánh chân thực đời sống xã hội, ngôn ngữ văn học vẫn có tính nghệ thuật và sự khúc xạ qua ngòi bút tác giả.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát sang ngôn ngữ giao tiếp khẩu ngữ tự nhiên đời thường (ghi âm hội thoại trực tiếp) và các môi trường giao tiếp chuyên biệt (công sở, bệnh viện, trường học, dịch vụ thương mại, mạng xã hội).
    • Khảo sát sâu hơn các yếu tố phi lời (ánh mắt, cử chỉ, nét mặt, ngữ điệu) đi kèm hành động phàn nàn.
    • Nghiên cứu hành động hồi đáp/phản hồi đối với lời phàn nàn trong các cặp trao đáp tương tác hai chiều giữa người Việt và người Nhật.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, nhà nghiên cứu chuyên ngành Ngôn ngữ học và Ngữ dụng học: Tham khảo khung lí thuyết phân tích hành động ngôn ngữ gián tiếp, phương pháp nhận diện IFIDs, cách thức xử lí ngữ liệu đối chiếu liên ngôn ngữ và hệ thống bảng thống kê tại Chương 1, Chương 2 và Chương 3.
  • Giảng viên và sinh viên ngành Ngôn ngữ Nhật, Nhật Bản học, Việt Nam học: Sử dụng các phát hiện đối chiếu tại Chương 4 để hiểu rõ cơ chế vận hành của trợ từ tiếng Nhật (終助詞, 接続助詞) và yếu tố tình thái tiếng Việt, từ đó áp dụng vào thực hành giao tiếp và dịch thuật chuẩn xác về mặt ngữ dụng.
  • Người làm công tác biên - phiên dịch và giao tiếp đối ngoại Việt - Nhật: Tham khảo các chiến lược lịch sự và cách thức chuyển đổi phát ngôn phàn nàn để tránh xung đột thể diện trong môi trường làm việc đa văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao hành động phàn nàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật hầu như không sử dụng biểu thức ngôn hành tường minh?
Trả lời: Trong thực tế giao tiếp ở cả hai ngôn ngữ, các động từ biểu thị hành động phàn nàn (như phàn nàn, than thở, kêu ca trong tiếng Việt hay fuman trong tiếng Nhật) không đảm nhận chức năng của động từ ngôn hành thực thi (performative verbs) ở ngôi thứ nhất thì hiện tại. Hơn nữa, do bản chất phàn nàn là hành vi đe dọa thể diện, người nói tránh dùng phát ngôn tường minh mà chuyển sang biểu thức nguyên cấp hoặc hành vi gián tiếp để đảm bảo tính lịch sự.

2. Tiếng Việt và tiếng Nhật sử dụng những từ ngữ chuyên dụng nào để nhận diện hành động phàn nàn?
Trả lời: Tiếng Việt sử dụng vị từ tình thái (phải, lại, cứ), tiểu từ tình thái cuối câu (à, ư, nhỉ, nhé, cơ, chứ), quán ngữ tình thái (rõ ràng là, tưởng là, ai ngờ), và thán từ (ôi, trời ơi, khổ quá). Tiếng Nhật sử dụng hệ thống trợ từ: trợ từ kết thúc (終助詞), trợ từ quan hệ (係助詞), trợ từ cách (格助詞), trợ từ nối (接続助詞), từ chỉ xuất (指示語), và các từ ngữ mang nghĩa tiêu cực (否定的な意味を表す言葉).

3. Bốn nhóm hành động gián tiếp thực hiện hành động phàn nàn trong luận án là gì?
Trả lời: Dựa trên phân loại của J. Searle, luận án xác lập 4 nhóm hành động gián tiếp thực hiện hành động phàn nàn trong cả hai ngôn ngữ gồm: nhóm Điều khiển (Directives), nhóm Biểu cảm (Expressives), nhóm Tái hiện (Representatives), và nhóm Cam kết (Commissives).

4. Khác biệt nổi bật nhất về mặt văn hóa khi thực hiện hành động phàn nàn giữa người Việt và người Nhật là gì?
Trả lời: Người Việt thường chú trọng việc lựa chọn từ xưng hô thích hợp để điều chỉnh không khí giao tiếp và có xu hướng bộc lộ cảm xúc tương đối rõ nét. Ngược lại, người Nhật chịu chi phối bởi ý thức giữ gìn chữ "hòa" (wa), tâm lí tập thể và ranh giới trong - ngoài (uchi - soto), nên triệt để sử dụng các chiến lược nói vòng, nói lửng, tránh đối đầu trực tiếp để bảo vệ thể diện cho người nghe.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Quỳnh Nga đã mô tả và đối chiếu một cách hệ thống hành động phàn nàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật trên ngữ liệu 1.728 phát ngôn trích từ tác phẩm văn học tự sự. Công trình xác lập bộ tiêu chí nhận diện hành động phàn nàn thông qua các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời, kết cấu cú pháp và từ ngữ chuyên dụng thay cho động từ ngôn hành trực tiếp. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm rõ sự tương đồng và khác biệt về chiến lược giao tiếp phàn nàn giữa hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình khác nhau mà còn lí giải sâu sắc các hiện tượng ngôn ngữ dưới góc độ văn hóa giao tiếp và phép lịch sự. Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu ngữ dụng học đối chiếu, giảng dạy ngoại ngữ và dịch thuật Việt - Nhật.