Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và Cơ sở lí luận Luận án trình bày tổng quan về những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án như: nghiên cứu về lí thuyết hành động ngôn ngữ, nghiên cứu về hành động phàn nàn và các hành động cùng nhóm với phàn nàn. Bên cạnh đó, luận án cũng giới thiệu những cơ sở lí luận được lựa chọn làm định hướng nghiên cứu cho đề tài như lí thuyết về hành động ngôn ngữ, lí thuyết về hành động phàn nàn. Ngoài ra, các vấn đề có liên quan, phục vụ trực tiếp cho quá trình chọn lọc và xử lí cứ liệu, xác lập và lí giải các đặc trưng của hành động phàn nàn như lí thuyết về văn hóa và phép lịch sự cũng được định dạng để giúp nhận diện hành động phàn nàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật. Chương 2: Hành động phàn nàn trong tiếng Việt Luận án phân tích các dấu hiệu ngôn hành và xác lập các tiêu chí giúp nhận diện hành động phàn nàn trong tiếng Việt, đó là dấu hiệu hình thức và các nhân tố giao tiếp.
Đối với dấu hiệu hình thức, chúng tôi sẽ xem xét các kết cấu phổ biến và các từ ngữ phổ biến được sử dụng trong hành động phàn nàn. Đối với các nhân tố giao tiếp, chúng tôi sẽ xem xét các yếu tố như đích ở lời, hướng lợi ích của hành động cũng như mối quan hệ liên nhân giữa người nói và người nghe. Đồng thời luận án cũng sẽ khảo sát các chiến lược thường được sử dụng khi thực hiện hành động phàn nàn như chiến lược sử dụng hành động phàn nàn gián tiếp, hoặc sử dụng các yếu tố mở rộng trong các phát ngôn phàn nàn. Chương 3: Hành động phàn nàn trong tiếng Nhật Luận án phân tích các dấu hiệu ngôn hành và xác lập các tiêu chí giúp nhận diện hành động phàn nàn trong tiếng Nhật thông qua 06 dấu hiệu tương tự với tiếng Việt.
Dựa trên các tiêu chí của J. Searle, luận án cũng tiến hành xác lập 04 nhóm hành động gián tiếp thực hiện hành động phàn nàn trong tiếng Nhật là điều khiển, biểu cảm, tái hiện và cam kết. 7 Chương 4: Đặc trưng văn hóa của hành động phàn nàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật Luận án trình bày mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, đặc trưng văn hóa giao tiếp trong tiếp của người Việt Nam và Nhật Bản. Thông qua việc liên hệ hành động phàn nàn trong tiếng Việt với tiếng Nhật, luận án chỉ ra những đặc trưng văn hóa trong giao tiếp của người Việt Nam và người Nhật Bản qua hành động phàn nàn.
Từ đó, luận án đề xuất một số giải pháp trong việc sử dụng hành động phàn nàn nói chung và giảng dạy ngoại ngữ nói riêng. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về hành động ngôn ngữ 1.
Những nghiên cứu ở nước ngoài về hành động ngôn ngữ Austin (1962) là người có công đầu trong việc xây dựng Lí thuyết hành động ngôn ngữ(1) (Theory of speech acts) và ông đã xác định ba cấp độ hành động nằm trong bản thân hành động phát ngôn (hay nói cách khác, đằng sau một lời nói cụ thể là ba hành động nằm trong một hành động) đó là: hành động tạo ngôn, hành động trung ngôn và hành động xuyên ngôn. Lí thuyết hành động ngôn ngữ của Austin đã mở ra một lĩnh vực nghiên cứu mới, tập trung vào việc khám phá ý nghĩa của ngôn ngữ và cách chúng được sử dụng trong các hành động giao tiếp [97]. Phát triển từ quan điểm của Austin, J. Searle (1969) cho rằng khi chúng ta nói, chúng ta đang thể hiện những hành động ngôn ngữ như: nhận định, ra lệnh, hỏi, hứa hẹn,.
Tác giả cũng nhấn mạnh rằng những hành động ngôn ngữ này được biểu hiện là do sự tương hợp với những quy tắc nhất định cho việc sử dụng các thành tố ngôn ngữ [117]. Những nghiên cứu có tính chất khai sáng của Austin và Searle về Lí thuyết hành động ngôn ngữ đã truyền cảm hứng cho rất nhiều nhà nghiên cứu khác tiếp tục phát triển và nâng cao lí thuyết này. Các nhà nghiên cứu như O. Ducrot (1972) [112], Brown và Levinson (1987) [101], Wierzbicka (1987) [95], Thomas (1995) [120], Yule (1996) [123] đã tiếp tục đưa ra những quan điểm mới về lí thuyết hành động ngôn ngữ, giúp cho lí thuyết này trở thành một trong những lí thuyết cơ bản nhất trong lĩnh vực ngữ dụng học.
(1) Trong lí thuyết hành động ngôn ngữ, thuật ngữ “speech act” và các thuật ngữ liên quan như: locutionary act, perlocutionary act, illocutionary act, performative verb. đã được các nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dân (1998) [11], Đỗ Hữu Châu (2003) [7], Nguyễn Văn Hiệp (2008) [43], Đỗ Việt Hùng (2011) [48], Nguyễn Thiện Giáp (2004, 2008) [26], [27] đưa ra và được sử dụng với những cách dụng ngôn khác nhau khi dịch sang tiếng Việt. Trong nghiên cứu của chúng tôi, ngoài việc trích dẫn nguyên bản ý kiến của các tác giả, chúng tôi sử dụng các thuật ngữ hành động ngôn ngữ và các thuật ngữ liên quan khác như: hành động tạo lời, hành động mượn lời, hành động ở lời, động từ ngôn hành, biểu thức ngôn hành,. để miêu tả và phân tích các hành động ngôn ngữ.
Các thuật ngữ này cũng có tính chính xác và đầy đủ trong việc thể hiện các khái niệm về hành động ngôn ngữ. Những nghiên cứu trong nước về hành động ngôn ngữ Tại Việt Nam, lí thuyết hành động ngôn ngữ bắt đầu được giới thiệu từ cuối những năm 1980 và nhanh chóng trở thành một chủ đề được quan tâm đối với giới học thuật. Các nghiên cứu về ngữ dụng học và hành động ngôn ngữ đã phát triển rộng rãi và được xem là một lĩnh vực học thuật bài bản và hệ thống. Trong số các công trình về ngữ dụng học ở thời kì đầu, nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân được xem là những công trình tiên phong về lí thuyết ngữ dụng học và hành động ngôn ngữ.
Đỗ Hữu Châu (1993, 2003) đã trình bày và phân tích các vấn đề cơ bản của lí thuyết ngữ dụng học trên toàn thế giới, đồng thời luận giải và làm rõ các vấn đề tương ứng trong ngữ dụng học tiếng Việt. Đây được xem là một trong những tài liệu nghiên cứu về lí thuyết ngữ dụng học tiêu biểu của Việt Nam với các nội dung như khái quát về ngữ dụng học, chiếu vật và chỉ xuất, hành động ngôn ngữ, lí thuyết lịch sự, lí thuyết lập luận, lí thuyết hội thoại, ý nghĩa hàm ẩn và ý nghĩa tường minh. Công trình này không chỉ được sử dụng làm tài liệu giảng dạy tại nhiều trường đại học và các chuyên ngành xã hội học còn là tài liệu cơ sở cho nghiên cứu khoa học của nhiều thế hệ sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh tại Việt Nam [6], [7]. Nguyễn Đức Dân (1998) đã giới thiệu một số nội dung cơ bản của ngữ dụng học như đại cương ngữ dụng học, hành động ngôn ngữ, hội thoại và lí thuyết lập luận.
Từ đó, các nghiên cứu về ngữ dụng học và hành động ngôn ngữ ở Việt Nam đã được mở rộng và phát triển, đóng góp vào sự phát triển của lĩnh vực này ở Việt Nam và trên thế giới [11]. Nguyễn Thiện Giáp (2022) dựa trên nghiên cứu của Austin và Searle đã tổng hợp các lí thuyết và vấn đề liên quan đến ngôn ngữ học bao gồm phân loại các hành động ngôn từ, phát ngôn ngôn hành, biểu thức ngôn hành, các phương tiện chỉ ra lực dị ngôn, động từ ngôn hành, hành động ngôn từ trực tiếp và gián tiếp, cách nhận diện hành động ngôn từ gián tiếp và quan hệ giữa hình thức câu với hành động ngôn từ… Tất cả những nội dung này được tác giả phân tích một cách tinh tế và trình bày tường minh trên cơ sở tinh lọc và xâu chuỗi linh hoạt giữa ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng [28]. 10 Bên cạnh các nhà nghiên cứu đã được đề cập ở trên, còn có rất nhiều nhà nghiên cứu khác đã đóng góp cho lĩnh vực ngữ dụng học nói chung và lí thuyết hành động ngôn ngữ của tiếng Việt nói riêng. Trong số đó, có thể kể đến các tên tuổi như, Cao Xuân Hạo [34], Đỗ Thị Kim Liên [56], Lê Đông [20], Nguyễn Văn Khang [53], Nguyễn Văn Hiệp [43], Đỗ Việt Hùng [48] và Vũ Thị Thanh Hương [49].
Từ bức tranh tổng thể đó, có thể thấy rõ ràng rằng lí thuyết hành động ngôn ngữ đã được khắc sâu và ngày càng chắc chắn hơn trong một số lĩnh vực nhất định. Lí thuyết hành động ngôn ngữ đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Các nghiên cứu xoay quanh việc nghiên cứu hành động ngôn ngữ của các nhóm hoặc cá thể khác nhau như nghiên cứu cặp trao đáp để hiểu về tương tác giữa các cá thể, nghiên cứu hành động ngôn ngữ trong quan hệ với phép lịch sự, so sánh sử dụng ngôn ngữ trong từng văn hóa khác nhau, nghiên cứu hành động ngôn ngữ trong tác phẩm văn học để hiểu về cách tác giả sử dụng ngôn ngữ, và nghiên cứu hành động ngôn ngữ trong môi trường giao tiếp như trường học, truyền hình, bệnh viện, báo chí, công sở, và nhiều hơn thế nữa. Các nghiên cứu này đã được thực hiện trên toàn thế giới, bao gồm cả Việt Nam.
Tại Việt Nam, hành động ngôn ngữ thường được nghiên cứu trong các luận án, luận văn và bài báo khoa học. Các hành động ngôn ngữ trong tiếng Việt đã được nghiên cứu đa dạng, bao gồm khen, cầu khiến, yêu cầu, từ chối, đe dọa, phản bác, cho, tặng, hỏi, nhờ, chê, giễu nhại, trách, khuyên, chửi, phê bình, nịnh, thề, cam kết, cảm thán, ra lệnh, giới thiệu, xin phép - hồi đáp, cảm ơn - tiếp nhận, xin lỗi - tiếp nhận. Trong luận án này, chúng tôi không thể miêu tả tất cả các nghiên cứu về các hành động ngôn ngữ cụ thể trong tiếng Việt, do đó, chúng tôi khái quát các hành động ngôn ngữ tiếng Việt đã được nghiên cứu theo 6 nhóm sau: 11 Bảng 1. Bảng khái quát các nghiên cứu về hành động ngôn ngữ trong tiếng Việt TT Nhóm Hướng tiếp cận Năm (Nhóm) Tác giả 1 Nghiên cứu nhóm Áp dụng lí thuyết dụng học để nghiên cứu một nhóm 1996 Đinh Thị Hà [29] động từ nói năng các động từ cùng nhóm hoặc gần nhóm về mặt cấu trúc 1996 Nguyễn Thị Ngân [65] và ngữ nghĩa.