CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT 1. Hành động ngôn ngữ 1. Khái quát về hành động ngôn ngữ Hành động ngôn ngữ còn được gọi là hành động nói hay hành vi ngôn ngữ. Ông có các công trình: Hành động như thế nào bằng lời nói (tiếng Anh: How to do things with word) (1962), Khi nói tức là làm (tiếng Pháp: Quand dire, c׳est faire).
Theo ông, không chỉ sự vận động vật chất và tâm lí mới là hành động. Bản chất của nói năng cũng là hành động. Đó là một loại hành động đặc biệt có phương tiện là ngôn ngữ. Ở Việt Nam, có thể kể đến một số tác giả tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu về lí thuyết hành động ngôn ngữ như: Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Bùi Minh Toán, v.
Những cơ sở lí thuyết mà Austin xây dựng nên đã được các nhà Việt ngữ học cụ thể hoá trên ngữ liệu tiếng Việt. Theo Đỗ Hữu Châu: Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh [8, tr. Còn Nguyễn Đức Dân cho rằng: Khi thực hiện một phát ngôn trong một tình huống giao tiếp cụ thể, qua cung cách phát ngôn và cấu trúc của nó người nói đã thực hiện những hành vi ngôn ngữ nhất định và người nghe cảm nhận được điều này. Xảy ra hiện tượng đó vì các hành vi ngôn ngữ mang tính chất xã hội, được ước chế bởi xã hội [12, tr.
Nói tóm lại, hành động ngôn ngữ gắn liền với hành động nói năng của con người, là hành động ngôn ngữ mang tính chất xã hội. Từ khi ra đời, lí thuyết hành động ngôn ngữ đã góp phần giải quyết được nhiều vấn đề ngôn ngữ mà các lí thuyết trước đây chưa giải quyết được. Vì thế nó được coi là xương sống của ngành Ngữ dụng học. Ba loại hành động ngôn ngữ Trong một phát ngôn, có thể chia ra ba loại hành động ngôn ngữ, đó là: hành động tạo lời (acte locutoire), hành động mượn lời (acte perlocutoire) và hành động ở lời (acte illocutoire).
Hành động tạo lời: là hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như: ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu,… để tạo ra phát ngôn. Hành động tạo lời tạo nên các biểu thức có nghĩa. Một bộ phận của hành động tạo lời đã là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học tiền dụng học (Ngữ âm học và Cú pháp học). Hành động mượn lời: là những hành động “mượn” phương tiện ngôn ngữ, hay mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói.
Chẳng hạn, cùng với thông tin tăng lương cơ bản cho cán bộ, viên chức thì có nhiều cách tiếp nhận khác nhau. Cán bộ, viên chức thì mừng vui vì có thêm thu nhập; Đa số người dân lại tỏ ra lo lắng vì lương chưa tăng thì giá sinh hoạt hàng ngày đã tăng trước; những người bán hàng tiêu dùng thì thêm hy vọng sẽ tăng doanh thu bán hàng; những người làm việc tự do thì thờ ơ không quan tâm đến thông tin này, v. Qua đó cho thấy, hành động mượn lời thể hiện ở hiệu quả mà phát ngôn gây ra đối với người nghe. Hiệu quả ấy không có mẫu số chung và không thể đo đếm được.
Hành động mượn lời không phải là đối tượng nghiên cứu của Ngữ dụng học. Hành động ở lời (HĐƠL, hay còn gọi là hành động ngôn trung, hành động tại lời) là đối tượng nghiên cứu chính của Ngữ dụng học. HĐƠL là những hành động được người nói thực hiện ngay khi nói. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận [8, tr.
Nói cách khác, đây là hành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nói ra (hay viết ra). Đây là yếu tố giúp phân biệt HĐƠL này với HĐƠL khác. Khác với hành động mượn lời, HĐƠL có tính quy ước mang tính xã hội. Nắm được ngôn ngữ, không chỉ có nghĩa là nắm được âm, từ ngữ, câu,… của 9 ngôn ngữ đó mà còn phải nắm được những quy tắc điều khiển các HĐƠL trong ngôn ngữ đó.
Hành động hỏi và HĐCK trong ngôn ngữ SGK Ngữ văn THCS mà chúng tôi nghiên cứu trong luận văn này chỉ được xem xét dưới góc độ hành động ở lời. Các kiểu hành động ngôn ngữ Trong việc áp dụng lí thuyết HĐNN, hiện nay quan điểm của Searle rất phổ biến trong giới Việt ngữ học. Searle đã dùng 4 trong số 12 tiêu chí đó là: đích ở lời, hướng khớp ghép lời với hiện thực, trạng thái tâm lí và nội dung mệnh đề. Trong luận văn này, chúng tôi dựa theo cách phân loại của Searle, chia HĐNN thành 5 nhóm: 1.
Nhóm hành động trình bày (còn gọi là hành động miêu tả, xác tín) Nhóm hành động này có đích ở lời là kể, trần thuật hay miêu tả một sự tình nào đó. Hướng khớp ghép là lời - hiện thực (lời phải phù hợp với hiện thực) và trạng thái tâm lí là niềm tin vào những điều mà mình trình bày. Nội dung mệnh đề là một mệnh đề và mệnh đề đó có thể kiểm chứng được tính đúng - sai, chân - nguỵ. Nhóm trình bày bao gồm các HĐƠL như: kể, miêu tả, tường thuật, báo cáo, thuyết minh, tường trình, tố cáo, khai, khai báo, kết luận, tổng kết, tóm tắt, v.
Nhóm hành động điều khiển Nhóm hành động này có đích ở lời là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động trong tương lai. Hướng khớp ghép là hiện thực - lời (hiện thực phải phù hợp với lời). Trạng thái tâm lí là người nói thực sự mong muốn người nghe thực hiện hành động đó. Nội dung mệnh đề là hành động trong tương lai của SP2.
Nhóm điều khiển gồm các HĐƠL: yêu cầu, bảo, đề nghị, xin, cho phép, sai, sai khiến, lệnh, khuyên, mời, hỏi, kiến nghị, chỉ định,… Searle xếp hỏi vào nhóm hành động điều khiển vì hành động hỏi đòi hỏi người nghe đáp lại bằng hành động trả lời. Đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu trong luận văn này, HĐCK và hành động hỏi trong ngôn ngữ SGK Ngữ văn THCS là các hành động thuộc nhóm điều khiển. Nhóm hành động cam kết (ước kết) Nhóm hành động này có đích ở lời là người nói thông qua phát ngôn của mình tự đặt mình vào trách nhiệm thực hiện một hành động trong tương lai. Hướng khớp ghép là hiện thực - lời (hiện thực phải phù hợp với lời).
Trạng thái tâm lí là ý định, mong muốn thực hiện hành động đó của người nói. Nội dung mệnh đề là hành động tương lai của SP1. Nhóm cam kết gồm các HĐƠL: hứa, cam kết, cam đoan, giao ước, đảm bảo, thoả thuận, thề, nguyện, đe, doạ, thách thức, v. Nhóm hành động biểu cảm (bộc lộ) Nhóm hành động này có đích ở lời là thông qua phát ngôn, SP1 bày tỏ được trạng thái tâm lí của mình.
Trạng thái tâm lí là người nói thực sự có, thực sự cảm thấy trạng thái tâm lí được bày tỏ. Nội dung mệnh đề là một hành động hay một tính chất nào đó có tư cách là nguồn gây ra cảm xúc ở người nói. Nhóm biểu cảm gồm các HĐƠL: than thở, than phục, cảm than, khen, chê, cảm ơn, xin lỗi, ân hận, tiếc, thương, ca ngợi,… 1. Nhóm hành động tuyên bố Đích ở lời của nhóm hành động này là làm cho điều được nêu ra trong phát ngôn có hiệu lực (trở thành hiện thực).
Hướng khớp ghép vừa là lời - hiện thực vừa là hiện thực - lời. Trạng thái tâm lí, theo Searle ở nhóm hành động này là Ø (vắng mặt). Nội dung mệnh đề là một mệnh đề nào đó. Nhóm tuyên bố gồm các HĐƠL: tuyên bố, tuyên án, buộc tội,… Sự phân loại của Searle không phải là kết quả cuối cùng, kết quả tuyệt đối.
Sự phân loại các HĐNN thành 5 nhóm nêu trên chỉ mang tính tương đối vì có trường hợp cùng một HĐƠL có thể thuộc về một vài nhóm. Do đó, đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện. Hành động ngôn ngữ trực tiếp và hành động ngôn ngữ gián tiếp Căn cứ vào cách thực hiện hành động ngôn ngữ, người ta chia thành hai loại: hành động ngôn ngữ trực tiếp và hành động ngôn ngữ gián tiếp. Diệp Quang Ban [6] nhận xét: hành động nói trực tiếp và hành động nói gián tiếp được xét theo mối quan hệ giữa hình thức diễn đạt (là kiểu câu) với 11 chức năng (là đích ngôn trung của hành động nói) [6, tr.
Trong tiếng Việt, có bốn kiểu câu: trình bày, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán. Mỗi kiểu câu đều có những đặc trưng riêng về cấu trúc ngữ pháp. Xem xét mối liên hệ giữa cấu trúc câu với chức năng là xem xét HĐNN trực tiếp và HĐNN gián tiếp. Hành động ngôn ngữ trực tiếp Hành động nói trực tiếp là hành động được sử dụng đúng với mục đích mà phương tiện ngôn ngữ thể hiện.
Theo Đỗ Hữu Châu: hành vi ngôn ngữ chân thực là hành vi ngôn ngữ được thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng của chúng [8, tr. Còn Diệp Quang Ban nhận định: khi một kiểu câu được dùng đúng với chức năng vốn có của nó, thì nó hoạt động với tư cách hành động nói trực tiếp [6, tr. Ví dụ: (1) Hãy tìm bố cục của truyện “Cuộc chia tay của những con búp bê”. (SGK Ngữ văn 7, tập 1, tr.30) (2) Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con như thế nào và để làm gì? (SGK Ngữ văn 6, tập 1, tr.8) Dựa vào dấu hiệu hình thức (tác tử hãy, gì) và hiệu lực ở lời, ta biết được: (1) là CCK thực hiện hành động cầu khiến; (2) là câu hỏi thực hiện hành động hỏi.
Đó là hai hành động ngôn ngữ trực tiếp. Phương tiện thực hiện hành động nói trực tiếp có hai trường hợp: sử dụng câu ngôn hành tường minh; sử dụng câu ngôn hành hàm ẩn (hay nguyên cấp) + Sử dụng câu ngôn hành tường minh Sử dụng câu ngôn hành tường minh là sử dụng câu chứa động từ gọi tên hành động nói đang được thực hiện. Động từ gọi tên hành động nói đó được gọi bằng thuật ngữ động từ ngôn hành (động từ ngữ vi).